Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập235
  • Máy chủ tìm kiếm44
  • Khách viếng thăm191
  • Hôm nay35,737
  • Tháng hiện tại1,270,104
  • Tổng lượt truy cập43,123,387

Tiêm Ranibizumab kết hợp Laser trong điều trị phù hoàng điểm do tiểu đường - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiêm ranibizumab nội nhãn, kết hợp với điều trị laser cho kết quả cải thiện thị lực tốt hơn so với điều trị laser đơn độc trong các bệnh lý phù võng mạc do bệnh tiểu đường.

Gần 50% bệnh nhân được điều trị với ranibizumab kết hợp với laser có cải thiện thị lực đáng kể sau 1 năm so với 28% trong điều trị laser đơn độc. Đây là kết quả của nghiên cứu tại 52 trung tâm trong hệ thống nghiên cứu lâm sàng bệnh võng mạc tiểu đường (Diabetic Retinopathy Clinical Research Network: DRCR.net) được tài trợ bởi Viện Mắt quốc gia (National Eye Institute) và Viện Bệnh Tiểu đường, Bệnh Tiêu hóa và Bệnh Thận quốc gia Mỹ (National Eye Institute and the National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases).

Bệnh võng mạc tiểu đường là nguyên nhân thường gặp gây giảm thị lực ở người trưởng thành. Bệnh gây tổn thương các mạch máu nhỏ của võng mạc. Dịch bị rò rỉ từ các mạch máu tổn thương vào vùng võng mạc trung tâm gây phù và dẫn đến giảm thị lực nếu không được điều trị. Laser võng mạc đã trở thành phương pháp điều trị chuẩn  trong bệnh phù hoàng điểm do tiểu đường từ 1987 và cho thấy có hiệu quả. Tuy nhiên các nghiên cứu ngắn hạn gần đây đã phát hiện lợi ích khi tiêm vào nội nhãn thuốc ức chế các yếu tố kích thích phát triển mạch máu, được biết như yếu tố phát triển tế bào nội mô mạch máu (Vascular Endothelial Growth Factor: VEGF). Các nghiên cứu này chứng tỏ khi dùng liều lập lại thuốc kháng VEGF (như ranibizumab) có thể ngăn ngừa sự rỉ dịch và gây phù hoàng điểm từ các mạch máu. Kết quả nghiên cứu của DRCR.net được công bố trên Tạp chí Ophthalmology đã xác nhận hiệu quả của phương pháp khi phối hợp điều trị laser võng mạc sau 1 năm theo dõi.

Nghiên cứu hiện tại bao gồm tổng cộng 854 mắt của 691 bệnh nhân. Những người tham gia có tuổi trung bình 60, được chẩn đoán bệnh tiểu đường type 1 hoặc 2 và có phù hoàng điểm. Họ được phân phối ngẫu nhiên vào một trong bốn nhóm nghiên cứu: tiêm giả dược cộng với điều trị laser ngay trong vòng một tuần; tiêm ranibizumab cộng với điều trị laser ngay; ranibizumab cộng với điều trị laser chậm sau sáu tháng trở lên; hoặc tiêm thuốc corticosteroid được biết đến như triamcinolone cộng với laser điều trị. Ranibizumab có thể được tiêm lập lai sau mỗi bốn tuần, và tiêm triamcinolone hoặc laser điều trị có thể được lập lại sau mỗi 16 tuần. Nói chung, điều trị được tiếp tục cho đến khi thị lực của bệnh nhân hoặc chiều dày võng mạc trở lại bình thường, hoặc điều trị bổ sung đã không cải thiện thị lực hoặc chiều dày võng mạc.

Sau một năm, gần 50% mắt được điều trị bằng ranibizumab và điều trị laser ngay hoặc chậm cho thấy một sự cải thiện thị lực đáng kể. Bệnh nhân có thể đọc ít nhất thêm hai dòng trên bảng thị lực bằng mắt được điều trị, hoặc đọc được chữ cái nhỏ hơn ít nhất một phần ba chữ cái họ có thể đọc trước khi điều trị. Ít hơn 5 phần trăm mắt trong các nhóm này giảm thị lực từ hai dòng trở lên. Ngược lại, khoảng 30% mắt được điều trị laser đơn độc hoặc triamcinolone cộng với laser có cải thiện thị lực hai hay nhiều dòng trên bảng thị lực, trong khi 13-14% mắt trong các nhóm này mất thị lực hai hay nhiều dòng.

Mặc dù cả ba nhóm có tiêm thuốc có sự giảm đáng kể chiều dày võng mạc sau một năm so với laser điều trị một mình, nhưng nhóm bệnh nhân được tiêm triamcinolone có tỷ lệ biến chứng lớn hơn. Khoảng 30% trong nhóm tiêm triamcinolone có tăng nhãn áp cần phải điều trị, và khoảng 60% phát triển đục thủy tinh thể cần phải phẫu thuật. Rất ít bệnh nhân được tiêm ranibizumab có biến chứng liên quan đến mắt, chẳng hạn như nhiễm trùng nội nhãn do tiêm thuốc, hoặc làm xấu đi tình trạng bong võng mạc đã tồn tại trước khi bắt đầu điều trị. Các nghiên cứu cho thấy tiêm ranibizumab không liên quan với bất kỳ rủi ro nghiêm trọng như đau tim hay đột quỵ. Các nhà nghiên cứu DRCR.net sẽ tiếp tục theo dõi những người tham gia nghiên cứu trong ít nhất ba năm để có được thông tin bổ sung về sự an toàn và hiệu quả của phương pháp điều trị này.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây