Thiết bị xạ trị ung thư - bệnh viện 103
1. Máy COBALT-60
- Nguồn Cobalt-60 phát tia gamma 1,25 MeV. T = 5,26 năm.
- Ứng dụng sớm, từ những năm 1950.
- Đến nay các nước tiên tiến không dùng Cobalt nữa.
2. Máy gia tốc tuyến tính (LINAC)
LINAC phát 2 loại bức xạ: chùm hạt electron được gia tốc trực tiếp và chùm photon tia X được tạo ra do điện tử đập vào đối âm cực. Năng lượng của chùm tia có rất nhiều mức khác nhau, từ 3MeV đến 15 MeV, 18MeV…Máy hiện đại có ống định hướng chùm tia (collimator) đa lá (Multi Leaf Collimator – MLC) với sự điều khiển tự động của máy tính, cho phép thực hiện được các kỹ thuật điều trị điều biến liều (Intensity Modulated Radiation Therapy -IMRT). IMRT là một kỹ thuật hiện đại trong điều trị UT, liều xạ được phân bố tối đa theo hình dạng khối u được hạn chế tối thiểu ở tổ chức lành xung quanh.
3. Dao Gamma và dao tia X
Về thiết bị, dao gamma (gammaknife) và dao tia X (cyberknife) được ứng dụng ngày càng rộng rãi và hiệu quả. Dao tia X thực chất là một máy gia tốc LINAC năng lượng 6 MeV được gắn trên một tay robot 6 khuỷu rất linh động, có thể tạo ra chùm tia hội tụ với tâm điểm là khối u. Còn dao gamma sử dụng bức xạ tia gamma của nguồn Co-60. Dao gamma cổ điển sử dụng 201 nguồn Co-60 sắp xếp trên một mũ chụp hình cầu có các collimator định hướng. Nhờ kỹ thuật định vị không gian 3 chiều, thiết bị này đem lại độ chính xác cao, hiệu quả điều trị tốt và an toàn.
Nguyên lý hoạt động của dao gamma khá đơn giản. Sau khi xác định được điểm cần phẫu thuật, dựa vào chụp cắt lớp mô phỏng định vị khối u, sau đó sẽ dùng chính tia GAMMA (nhiều tia xuất phát từ các vị trí khác nhau xung quanh hộp sọ cùng chiếu một lúc và các tia này sẽ hội tụ vào đúng vị trí u đã được định vị). Vì vậy điểm tập trung các tia này có độ lớn tổng hợp sẽ phá hủy và tiêu diệt khối u mà vùng não xung quanh hầu như không bị tổn thương. Bởi vì các tia riêng lẻ có liều hấp thụ nhỏ hơn rất nhiều so với phương pháp chiếu tia gamma thông thường. Đó là ưu điểm nổi bật so với mổ mở.
Bệnh nhân được gây mê trong khi một bộ phận đặc biệt sẽ giữ cho đầu được hoàn toàn cố định. Sau đó từ hình ảnh MRI, CT hay X-Quang có chất cảng quang, ví trị được xác định và kết quả được gửi cho hệ thống chương trình của dao gamma. Những người điều trị sử dụng chương trình máy tính để thiết lập chính xác dựa trên mối quan hệ giữa vùng tổn thương và các cấu trúc xung quanh để dao gamma điều trị có kết quả nhất. Nhà vật lý và người điều trị thường xem xét, tinh chỉnh nhiều lần cho đến khi đạt được phương án tối ưu nhất. Đồng thời lựa chọn liều chiếu tối ưu nhất.
Sử dụng hệ thống định vị 3 chiều trong việc lập kế hoạch điều trị. Khung định vị này sẽ đảm bảo độ chính xác cho dao gamma khi được kích hoạt. Quá trình điều trị kéo dài từ vài phút đến vài giờ tuỳ theo yêu cầu về liều chiếu và hình dạng của mụch tiêu cần điều trị. Bệnh nhân khộng hề cảm thấy sự có mặtcủa tia bức xạ. Sau khi điều trị khung định vị sẽ được lấy ra khỏi người bệnh.
Hệ gamma quay cũng dựa theo nguyên lý dao gamma cổ điển nhưng thay cho mũ collimator cố định là hệ thống collimator quay quanh đầu. Hệ thống xạ phẫu gamma quay sử dụng bộ điều khiển đồng tâm (isocenter) được tạo bởi 30 nguồn phóng xạ Co-60. Nhờ bộ collimator quay mà hệ gamma quay không đòi hỏi phải chụp mũ và cố định mũ định hướng. Với hệ thống gamma quay, suất liều tại các điểm đồng tâm có thể đạt 3Gy/phút với độ lệch vị trí < 0,1mm. Dao gamma cho phép có thể điều trị với suất liều lớn trên 10Gy, do đó với xạ trị thông thường trước đây phải kéo dài 30-35 buổi chiếu thì với dao gamma chỉ cần 1-5 buổi chiếu, tiện lợi hơn cho người bệnh, đạt kết quả nhanh như cuộc mổ, vì thế nên với dao gamma người ta gọi là xạ phẫu thay cho thuật ngữ xạ trị trước đây.
Để đạt được liều đủ lớn ở điểm hội tụ và liều cực tiểu tới các mô lành xung quanh, các chùm tia gamma phát ra từ các nguồn phải mảnh và hội tụ tốt. Vì vậy, về nguyên tắc chỉ nên dùng dao gamma để tiêu diệt các khối u có kích thước nhỏ, thường dưới 5cm.
Tia gamma có thể tiêu diệt được hầu hết các loại khối u trong hộp sọ tuỳ vào liều tia xạ. Tuy nhiên, để không gây tổn thương các tổ chức lành xung quanh, liều chiếu phải được hạn chế. Đến nay người ta đã thống nhất các chỉ định điều trị bằng dao gamma cho các trường hợp sau đây:
Các khối u di căn vào não, điều trị bằng dao gamma đạt hiệu quả tốt.
- U màng não ở các vị trí khác nhau, đặc biệt là vùng không can thiệp được bằng phẫu thuật hoặc phẫu thuật gây ra nhiều biến chứng như: u ở vùng rãnh trượt (Cluvis), u góc cầu tiểu não, u gần các mạch máu lớn, u ở phần ba trong cánh nhỏ xương bướm.
- U thần kinh đệm độ I, II, III.
- U tuyến yên, đặc biệt là những khối u xâm lấn vào tổ chức xung quanh như động mạch cảnh, xoang tĩnh mạch, mổ hở không lấy được hết u.
- U sọ hầu thể đặc.
- U vùng tuyến tùng như: u tế bào mầm, u màng não, u thần kinh đệm.
- U dây thần kinh số V, số VIII, u dây thần kinh hỗn hợp…
- Các khối di dạng mạch máu não…
CyberKnife được giáo sư John R. Adler thuộc Khoa Phẫu thuật thần kinh và Xạ phẫu ung bướu của Đại học Stanford (Mỹ) phát minh năm 1994. Sau nhiều lần được cải tiến, năm 2001 CyberKnife được Cục Quản lý Dược – Thực phẩm Hoa Kỳ cấp phép lưu hành. Tại Mỹ, ban đầu CyberKnife được dùng trong điều trị u não, sau đó ung thư phổi, tiếp đến là ung thư cổ, đầu, tuyến tụy… Sau gần 10 năm, đến nay đã có hàng trăm trung tâm ứng dụng công nghệ CyberKnife trên thế giới, như ở Nhật, Malaysia, Đức, Anh, Ý… Ước tính hơn 40.000 bệnh nhân toàn cầu đã được điều trị ung thư bằng phương pháp tân tiến này.
Ưu điểm
- Là phương pháp điều trị không dùng dao kéo
-
Độ chính xác dưới milimet
-
Không cần khung cố định, định vị
-
Ít tai biến, biến chứng
-
Cải thiện chất lượng cuộc sống
Quy trình điều trị
- Tạo khuôn cố định bệnh nhân (mặt nạ mềm, đệm xốp…) và đặt 5-6 hạt vàng nhỏ vào cơ thể (với điều trị ngoài sọ)
- Chụp CT đa lát (theo tiêu chuẩn CyberKnife) và chụp thêm MRI/PET/Angio nếu cần
- Lập kế hoạch và tối ưu hóa kế hoạch điều trị
- Điều trị: Tùy theo tính chất của khối u có thể tiến hành điều trị từ 1-5 lần, mỗi ngày 1 lần, mỗi lần khoảng 30-90 phút
- Theo dõi sau điều trị: chụp MRI để kiểm tra sau xạ phẫu 3, 6, 12, 24… tháng
Dao tia X ngoài những chỉ định như dao gamma, do có năng lượng lớn hơn nên còn có chỉ định xạ phẫu cho cả u ngoài não như u gan, u phổi…
Nguồn: Bệnh viện 103
Chăm sóc bệnh nhân ung thư sau hóa trị như thế nào?
Đương đầu với hành trình hóa trị ung thư không chỉ là sự khó khăn của người bệnh mà còn là thử thách với người thân. Làm thế nào để chăm sóc bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người bệnh vượt qua những mệt mỏi về sức khỏe lẫn trở ngại tinh thần?
- 0 trả lời
- 996 lượt xem
Ung thư buồng trứng xảy ra khi tế bào không bình thường phát triển trong một hoặc cả hai buồng trứng của bạn. Buồng trứng là hai tuyến nhỏ, nằm ở hai bên tử cung.
Ngày càng nhiều phụ nữ, cũng như một số ít nam giới (nhưng số lượng tăng dần) sử dụng thuốc nhuộm tóc. Có lẽ bạn từng nghe những lời đồn thổi về việc thuốc nhuộm tóc gây ung thư? Không ít các nghiên cứu coi thuốc nhuộm tóc như một yếu tố rủi ro có thể dẫn tới nhiều loại bệnh ung thư. Bài viết dưới đây sẽ thảo luận về những điều mà nghiên cứu chỉ ra để chúng ta có thể yên tâm đưa ra quyết định.
Quan hệ tình dục là một nhu cầu sinh lý bình thường ở tất cả mọi người bao gồm cả những bệnh nhân ung thư. Vậy bệnh nhân ung thư thường có những vấn đề gì khi quan hệ tình dục, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





