Tắc động mạch phổi - sát thủ ẩn mình -Bệnh viện 108
Tắc động mạch phổi:
- Là hiện tượng tắc ít nhất một động mạch phổi hoặc nhánh động mạch phổi, thường do huyết khối từ tĩnh mạch sâu di chuyển lên.
- Đây là một bệnh khá thường gặp tuy nhiên khó chẩn đoán vì dễ nhầm với các bệnh khác.
- Khả năng chần đoán và điều trị phụ thuộc vào trang bị của từng cơ sở y tế, dù có trang thiết bị đầy đủ, song nếu không nghĩ đến thì không chẩn đoán được tắc động mạch phổi.
Cơ chế:
- Thường phát sinh từ huyết khối có nguồn gốc trong hệ thống tĩnh mạch sâu chi dưới.
- Hiếm khi cũng có nguồn gốc tĩnh mạch chậu hông, tĩnh mạch thận, tĩnh mạch chi trên, hoặc các buồng tim bên phải.
- Sau khi đi vào phổi, huyết khối lượng lớn có thể dừng tại các nhánh của động mạch phổi chính hoặc nhánh thùy và gây ra sự biến đổi bệnh lý về huyết động học.
- Huyết khối thuyên tắc phổi không phải là một căn bệnh trong và của chính nó, thay vào đó, nó là một biến chứng của huyết khối tĩnh mạch nằm bên dưới.
- Trong điều kiện bình thường, huyết khối nhỏ được hình thành và ly giải liên tục trong hệ thống tuần hoàn tĩnh mạch.
Yếu tố nguy cơ:
- Tuổi cao, bất động lâu ngày, rối loạn đông máu di truyền, phẫu thuật, các vấn đề y tế như bệnh tim mạch, có thai, ung thư
- Có tiền sử tắc mạch phổi hoặc có bằng chứng viêm tắc tĩnh mạch chi dưới trong quá khứ hay hiện tại (sưng, nóng, đỏ, đau, mạch mu chân bắt rõ).
- Hút thuốc lá, béo phì,sử dụng estrogen cũng là yếu tố nguy cơ của tắc động mạch phổi.
Triệu chứng:
- Đau ngực kiểu màng phổi đột ngột (đau tăng khí ho hắt hơi, ăn uống, hít sâu, vặn mình, không giảm khi nghỉ ngơi), khó thở.
- Xuất hiện những thay đổi huyết động nặng nề, tụt huyết áp, sốc, hôn mê.
- Ho ra máu cũng là một triệu chứng của tắc động mạch phổi.
Dự phòng:
- Có ý thức, nhận thức về căn bệnh nguy hiểm chết người này
- Với các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ, khi có các triệu chứng về hô hấp, nên đến bệnh viện ngay tránh chậm trễ.
- Thực hiện lối sống lành mạnh, không sử dụng chất kích thích thích và hút thuốc lá, ăn nhiều rau quá, uống nhiều nước, hạn chế dầu mỡ phủ tạng động vật, chất béo.
- Tập thể dục thường xuyên nhất là đi bộ, không ngồi hay đứng lâu mà không vận động, ví dụ đi du lịch đường dài khi ngồi ô tô khoảng 30-45 phút ta nên đứng dậy vặn mình khởi động chân tay chút rồi mới tiếp tục ngồi xuống.
- Với bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cần dùng thuốc chống đông dự phòng bằng heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc kháng vitamin K. Hậu phẫu nên cho bệnh nhân vận động sớm.
- Phát hiện và điều trị tốt các bệnh lý tim mạch, bệnh lý viêm tắc hay suy van tĩnh mạch chi dưới.
Nguồn: Bệnh viện 108
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng cục máu đông hình thành trong phổi do nhiều nguyên nhân. Phần lớn các trường hợp bị thuyên tắc phổi xuất phát từ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), tình trạng cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu của cơ thể.
Thuyên tắc phổi (PE) xảy ra khi một phần của cục máu đông từ tĩnh mạch sâu di chuyển đến phổi, gây tắc nghẽn mạch máu. Đây là một dạng của huyết khối tĩnh mạch (VTE).
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.
Thời gian phục hồi sau thuyên tắc phổi có thể khác nhau tùy từng người. Nhiều người có thể hồi phục hoàn toàn và hoạt động bình thường trở lại sau vài tuần hoặc vài tháng.
Các loại thuốc điều trị thuyên tắc phổi (PE) có tác dụng làm giảm kích thước cục máu đông, giúp làm tan hoặc ngăn ngừa cục máu đông tái phát. Tuy nhiên, tất cả các loại thuốc này đều có nguy cơ gây chảy máu.





