Phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến yên: Chỉ định khi nào?
Để được như vậy, người bệnh cần được thăm khám và chẩn đoán đúng, cân nhắc đúng chỉ định mổ u tuyến yên trước khi can thiệp.
1. U tuyến yên là gì?
Các khối u tuyến yên còn được gọi là adenoma, là sự tăng trưởng lành tính, không phải ung thư, từ các tế bào nhu mô tuyến yên, chiếm phần lớn các trường hợp mắc phải u tuyến yên. Chỉ có dưới 1% u tuyến yên có bản chất là ung thư.
Những tác động do một khối u tuyến yên gây ra có thể là trên đặc điểm cấu trúc hay trên đặc điểm chức năng hay cả hai. Cụ thể là một khối u tuyến yên lớn có thể gây chèn ép trên các dây thần kinh thị giác và ảnh hưởng đến thị lực. Nó cũng có thể gây tổn thương cho các mô tuyến yên bình thường xung quanh và dẫn đến thiếu hụt một số hoặc tất cả các hormone do tuyến yên sản xuất. Thậm chí, u tuyến yên lớn cũng gây chèn ép các phần nhu mô não xung quanh.
Mặt khác, dù hiếm gặp, một adenoma tuyến yên vẫn có thể sản xuất hormone bất thường. Phổ biến nhất là một khối u tuyến yên sản xuất prolactin. Một số khác sản xuất hormone steroid, gây ra bệnh Cushing, hoặc hormone tăng trưởng, gây ra bệnh to đầu chi.
2. Phẫu thuật nội soi tuyến yên: Chỉ định khi nào?
Một khối u tuyến yên nếu được phát hiện tình cờ và không gây ra bất kỳ ảnh hưởng nào thì chỉ cần theo dõi. Trong khi đó, u tuyến yên có các đặc điểm dưới đây thì nên được xem xét chỉ định mổ u tuyến yên:
2.1. Ảnh hưởng thị giác
Nếu khối u tuyến yên có kích thước lớn quá mức thì có thể ấn vào các dây thần kinh thị giác nằm ngay phía trên tuyến yên. Điều này có thể ảnh hưởng đến thị lực và có thể gây ra bất kỳ triệu chứng nào sau đây:
- U tuyến yên làm thu hẹp quang trường. Người bệnh có cảm giác như đang nhìn xuống một đường hầm. Hiện tượng này thường ảnh hưởng đến mắt một bên nhiều hơn mắt còn lại.
- U tuyến yên làm giảm thị lực. Người bệnh không nhìn thấy rõ chi tiết hình ảnh hay chữ viết.
- Các khối u lớn có thể gây ra tầm nhìn đôi nhưng rất hiếm khi gặp phải.
2.2. Rối loạn nội tiết tố
Các adenoma tuyến yên được phát hiện thường trong bệnh cảnh do chúng gây ra sự sản xuất quá mức của một loại hormone cụ thể. Ngược lại, một số adenoma tuyến yên khác cũng có thể sản xuất cùng lúc nhiều loại hormone.
Ba loại adenoma sản xuất quá mức hormone phổ biến nhất là:
- U tuyến yên tiết prolactin
- U tuyến yên tiết quá mức hormone ACTH, từ đó tăng giải phóng cortisol tại tuyến thượng thận, gây ra bệnh Cushing.
- U tuyến yên tiết hormone tăng trưởng, gây ra bệnh to đầu chi.
Có một vài khối u tuyến yên sản xuất các loại hormone khác nhưng chúng hiếm gặp hơn rất nhiều.
Các adenoma tuyến yên không sản xuất hormone được gọi là adenomas tuyến yên không hoạt động. Tình trạng này dẫn đến các triệu chứng thiếu hụt hormone do khối u gây chèn ép phần tuyến yên còn lại. Bệnh cảnh này thường được chẩn đoán muộn vì không tạo ra các triệu chứng cụ thể khi có sự dư thừa hormone.
2.3. Gây chèn ép
Một khối u tuyến yên cũng có thể được phát hiện khi sự gia tăng kích thước của nó có ảnh hưởng đến các chức năng khác trong não ngoài ảnh hưởng giới hạn tầm nhìn.
Ví dụ, khi khối u tuyến yên có thể lớn đến mức chúng gây ra sự tắc nghẽn lưu thông của dịch não tủy trong não, dẫn đến một tình trạng gọi là tràn dịch não hay não úng thủy.
Một ví dụ khác là u tuyến yên có kích thước lớn làm tăng áp lực sọ não, khiến người bệnh bị đau đầu, chóng mặt, giảm thính lực hoặc các triệu chứng khác. Nếu phát hiện muộn, các triệu chứng này trở nên nặng dần, phần nhu mô não bị chèn ép có thể dẫn đến mất chức năng vĩnh viễn.
2.4. Sinh thiết u tuyến yên
Việc lấy một mảnh tế bào nhỏ tại tuyến yên nhằm mục đích sinh thiết là một trong các chỉ định của nội soi tuyến yên. Dưới phân tích của giải phẫu bệnh, ngoài các đặc điểm nêu trên, nếu kết quả là ác tính, dù có kích thước nhỏ, người bệnh cũng cần được can thiệp cắt lấy u sớm.
Như vậy, khi người bệnh có u tuyến yên và có một trong các chỉ định như trên, cần sắp xếp thực hiện phẫu thuật nội soi tuyến yên sớm trước khi sự phát triển của tuyến yên gây ra các biến chứng nặng nề hơn. Đồng thời, mọi sự chậm trễ có thể khiến cho cuộc phẫu thuật vượt quá khả năng chỉ định của phương pháp nội soi; thay vào đó, người bệnh phải can thiệp thay thế bằng phẫu thuật mở sọ.
3. Mục tiêu của phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến yên sẽ đạt được điều gì?
Mục tiêu của phẫu thuật u tuyến yên là loại bỏ càng nhiều khối u một cách càng an toàn càng tốt. Trong quá trình này, phẫu thuật viên phải đảm bảo không làm tổn thương các dây thần kinh và mạch máu mỏng manh trong khu vực cũng như giữ toàn vẹn nhu mô não còn lại nói chung.
Việc mổ u tuyến yên lấy khối u ra không chỉ giúp giải phóng phần não bị chèn ép, đặc biệt là dây thần kinh thị, mà còn giúp tái lập cân bằng bài tiết các loại hormone tuyến yên trong cơ thể.
Hơn thế nữa, so với phẫu thuật cắt bỏ u tuyến yên bằng cách mở nắp sọ, việc tiếp cận mổ nội soi u tuyến yên còn đặt mục tiêu đem lại thời gian hồi phục tối ưu cho người bệnh, giảm thiểu sang chấn cũng như đạt hiệu quả thẩm mỹ cao nhất.
4. Các chống chỉ định phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến yên
Tương tự như các can thiệp ngoại khoa khác, người bệnh không thể tiến hành mổ nội soi u tuyến yên nếu trước đó không thể đảm bảo cuộc mổ diễn ra thuận lợi. Cụ thể như người bệnh có bệnh lý tim phổi hay các bệnh lý mạn tính nặng, đang mắc bệnh lý cấp tính, có rối loạn đông cầm máu, tiền căn dị ứng với thuốc gây mê, chất lượng cuộc sống kém hay tiên lượng sống dài hạn hạn chế...
Xét trên phương diện chuyên môn khu trú, không có chống chỉ định tuyệt đối khi mổ u tuyến yên, nhất là với kỹ thuật nội soi khi các thao tác can thiệp diễn ra là tối thiểu. Mặc dù vậy, một số trường hợp khó, cần thiết phải cân nhắc khi chỉ định mổ nội soi tuyến yên là trên các người bệnh có biến dạng vùng mặt, mũi, không có xoang bướm hay xoang bướm quá nhỏ, vẹo vách ngăn hay có nhiễm trùng vùng tai mũi họng đang hoạt động.
Phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến yên là phương pháp được xem là an toàn nhất, hữu hiệu nhất trong điều trị u tuyến yên hiện nay. Tuy nhiên, để biết phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến yên: Chỉ định khi nào? thì phải cần xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng từng trường hợp, tránh mọi chống chỉ định trước khi thực hiện nhằm đảm bảo thuận lợi cho cuộc mổ cũng như can thiệp tối thiểu sang chấn trên người bệnh.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 1045 lượt xem
Nếu bạn đang phải khổ sở vì những đêm trằn trọc mất ngủ thì việc ngủ được ngay chỉ sau vài phút nằm xuống giường quả là một niềm mơ ước. Tuy nhiên, thật sự có những cách giúp bạn có thể chìm vào giấc ngủ chỉ sau 120, 60 hoặc thậm chí là 10 giây.
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Ferritin là một loại protein dự trữ sắt và giải phóng sắt khi cơ thể cần. Ferritin tập trung chủ yếu trong các tế bào và chỉ có một lượng rất nhỏ lưu thông trong máu.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.





