Phân độ bệnh viêm túi thừa đại tràng
1. Ai thường bị bệnh túi thừa
Do quá trình hình thành cần thời gian khá dài nên bệnh túi thừa thường gặp ở người lớn tuổi. Tuy vậy, những trường hợp xảy ra ở tuổi 30 trở lên cũng không phải là hiếm. Đôi khi đại tràng, nhất là đại tràng sigma, chứa đầy các túi thừa. Bệnh lý này thường gặp ở các xã hội Phương Tây.
Bệnh rất hiếm gặp ở những vùng nông thôn Châu Phi hoặc Ấn Độ. Thức ăn ở những vùng này thường bao gồm những loại thực phẩm chưa chế biến và các loại hạt rất giàu chất xơ. Do đó, chế độ ăn nhiều chất xơ rất có lợi cho việc phòng bệnh.
2. Triệu chứng bệnh túi thừa
Khi các túi thừa bắt đầu hình thành, thường rất ít triệu chứng, ngoại trừ thỉnh thoảng có những cơn co thắt ở vùng hố chậu trái. Khi bệnh túi thừa tiến triển xa, đại tràng thấp có thể trở nên ít di động, biến dạng, và hẹp lại. Lúc đó, phân thường mỏng và có dạng viên nhỏ, táo bón, đôi khi kèm những đợt tiêu chảy. Khi đó sẽ nảy sinh những vấn đề về cơ học và cấu trúc, việc điều trị trở nên khó khăn hơn.
3. Biến chứng của bệnh túi thừa
Tỉ lệ biến chứng của bệnh túi thừa tương đối khá thấp. Tuy nhiên các biến chứng nghiêm trọng vẫn có thể xảy ra. Viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất.
3.1 Viêm túi thừa
Như một trái bóng, túi thừa dãn nở ra, thành trở nên mỏng hơn so với phần còn lại của đại tràng. Đại tràng là nơi cư trú của nhiều loại vi trùng có ích khi chúng còn ở trong đại tràng. Tuy nhiên, các vi trùng này có thể thâm nhập qua thành mỏng của túi thừa và gây ra nhiễm trùng, tình trạng này gọi là viêm túi thừa. Viêm nhẹ chỉ gây hơi đau ở vùng hố chậu trái. Nếu viêm nặng sẽ gây đau nhiều và sốt.
Viêm túi thừa cần được điều trị. Cần phải dùng kháng sinh và nhịn ăn, đôi khi cần nhịn cả uống để giúp đại tràng được nghỉ ngơi. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân cần nhập viện điều trị.
3.2 Xuất huyết
Biến chứng xuất huyết xảy ra do vỡ một mạch máu ở túi thừa đại tràng. Máu tươi chảy ra nhiều từ hậu môn hoặc có khi tiêu phân sậm, màu gỗ gụ, khi xuất huyết xảy ra ở túi thừa đại tràng phải.
3.3 Thủng túi thừa
Biến chứng này tuy ít gặp nhưng lại là biến chứng nghiêm trọng nhất. Vi trùng từ đại tràng thoát vào ổ bụng gây viêm phúc mạc hoặc abscess. Trong đa số trường hợp, phải phẫu thuật bụng để giải quyết vấn đề.
4. Phân độ bệnh viêm túi thừa đại tràng
Có nhiều phân độ cho viêm túi thừa đại tràng (VTTĐT). Hai phân độ thường dùng là phân độ VTTĐT trên lâm sàng của hội phẫu thuật nội soi (PTNS) châu Âu và phân độ viêm túi thừa vỡ của Hinchey.
Bảng 1. Phân độ VTTĐT của hội PTNS Châu Âu
| Phân nhóm | Mô tả | Triệu chứng |
| I | VTTĐT không biến chứng (VTTĐT đơn giản) | Sốt, đau bụng âm ỉ, có bằng chứng viêm túi thừa trên CT |
| II | VTTĐT không biến chứng tái phát | Bệnh nhân thuộc nhóm I tái phát triệu chứng |
| III | VTTĐT có biến chứng (VTTĐT phức tạp) | Áp xe, mưng mủ, VPM, rò tiêu hóa, tắc ruột, chít hẹp lòng ruột |
Để đánh giá độ nặng của viêm túi thừa đại tràng vỡ, Hinchey đã đưa ra bảng phân độ gồm 4 độ. Phân độ Hinchey có thể đánh giá trước hoặc trong mổ, đánh giá trước mổ chủ yếu dựa vào hình ảnh học. Phân độ Hinchey được Wexner cải biên năm 1997 đã tách độ II (áp xe vùng chậu) thành hai độ nhỏ là IIa và IIb cụ thể hơn.
Bảng 2: Phân độ Hinchey cải biên cho VTTĐT vỡ
| Phân độ | Mô tả |
| I | Áp xe nhỏ quanh đại tràng |
| IIa | Áp xe xa dễ dẫn lưu |
| IIb | Áp xe phức tạp có/không kèm rò |
| III | VPM toàn thể do mủ |
| IV | VPM toàn thể do phân |
(Nguồn: Welch J.P. và Cohen J.L. (2006), "Diverticulitis", ACS Surgery: Principles and Practice, WebMD Professional Pub., Ch.12, p.540-553)
Phân độ Hinchey giúp ích cho việc lựa chọn phương pháp điều trị và tiên lượng. Đa số bệnh nhân độ I có thể điều trị nội khoa; 70-90% bệnh nhân có phân độ I hoặc IIa có thể dẫn lưu thành công; tỷ lệ tử vong ở những bệnh nhân có phân độ III là 6% và IV là 35% .
5. Có điều trị dứt điểm được túi thừa?
Khi túi thừa được hình thành nó sẽ tồn tại vĩnh viễn, không có phương pháp điều trị để phòng ngừa các biến chứng của túi thừa. Một chế độ ăn giàu chất xơ giúp làm tăng khối lượng phân và phòng táo bón có thể giúp làm giảm triệu chứng.
Chưa có bằng chứng về khả năng gây viêm túi thừa của các loại hạt, tuy nhiên một số bệnh nhân nếu có dấu hiệu khởi phát viêm túi thừa sau khi ăn các loại hạt thì không nên tiếp tục ăn mà nên thay bằng thực phẩm có chứa nhiều chất xơ như trái cây, rau, ngũ cốc, các loại đậu.
Hiệp hội các chuyên gia về dinh dưỡng Hoa kỳ khuyến cáo rằng phụ nữ nên ăn khoảng 25 gam chất xơ và nam giới khoảng 38 gam chất xơ mỗi ngày. Bên cạnh đó việc uống nhiều nước và tập thể dục thường xuyên cũng có hiệu quả.
Kết luận
Túi thừa đại tràng là một bệnh lý thường gặp và không nguy hiểm trừ khi có biến chứng. Mặc dù chưa có biện pháp phòng ngừa và điều trị bệnh nhưng có thể hạn chế sự hình thành túi thừa và biến chứng của túi thừa bằng cách ăn nhiều chất xơ, uống nhiều nước, tập thể dục thường xuyên. Việc phân độ viêm túi thừa đại tràng giúp xác định chẩn đoán, hướng dẫn điều trị và tiên lượng.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Túi thừa là những túi nhỏ, phồng lên hình thành trong lớp niêm mạc của đường tiêu hóa mà chủ yếu là ở phần dưới của đại tràng (ruột già). Sự hình thành túi thừa trong đường tiêu hóa là điều rất phổ biến, đặc biệt là sau 40 tuổi và hiếm khi gây ra vấn đề.
Viêm loét đại tràng là một bệnh viêm ruột, trong đó đường tiêu hóa bị viêm và có các vết loét. Ở bệnh viêm loét đại tràng, tình trạng viêm xảy ra ở lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng (ruột già) và trực tràng, vì thế mà bệnh này còn được gọi là viêm loét đại trực tràng. Các triệu chứng của bệnh thường khởi phát và tăng dần theo thời gian chứ không xảy ra đột ngột.
Nhiều người cho rằng ợ nóng, trào ngược axit và trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là cùng một vấn đề nhưng thực tế chúng không hoàn toàn giống nhau.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.





