Nguyên nhân, triệu chứng tràn dịch màng bụng
1. Nguyên gây gây tràn dịch màng bụng
1.1. Nguyên nhân không do tổn thương phúc mạc
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa (chênh lệch albumin giữa dịch màng bụng và huyết thanh):
Trường hợp bệnh nhân bị tràn dịch màng bụng có sự chênh lệch albumin giữa huyết thanh và dịch màng bụng, tăng áp lực tĩnh mạch cửa thì chỉ số gradient nồng độ albumin dịch báng ở màng bụng > 1.1 g/dL.
Một số nguyên nhân có thể là do xung huyết gan, viêm màng ngoài tim co thắt, suy van 3 lá, suy tim ứ huyết, hội chứng Budd - Chiari hoặc các bệnh lý về gan như: xơ gan, viêm gan, suy gan tối cấp, di căn gan, dịch tích tụ giữa các cấu trúc bên trong ổ bụng, dịch ổ bụng nhiều, tràn dịch ổ bụng do xơ gan....
Các trường hợp chỉ số gradient giảm, nồng độ albumin trong huyết thanh <1.1 g/dL có thể gặp phải các nguyên nhân như bệnh đường ruột gây mất protein, suy dinh dưỡng nặng dạng phù toàn thân, hội chứng hư thận.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tràn dịch màng bụng, chiếm đến 81% trong tổng số các trường hợp mắc bệnh là do xơ gan. Trong đó, tràn dịch màng bụng xơ gan do rượu chiếm 65%, tràn dịch màng bụng xơ gan do virus chiếm 10%, tràn dịch màng bụng xơ gan do các nguyên nhân khác chiếm 6%.
Tràn dịch màng bụng do suy tim chiếm 3%, ngoài ra còn do tắc tĩnh mạch gan hay hội chứng Budd - Chiari, bệnh lý sinh dưỡng liên quan đến năng lượng ở trẻ em, suy tim xung huyết.
Các tình trạng khác:
Một số nguyên nhân dẫn đến tràn dịch màng bụng khác bao gồm:
- Tràn dịch màng bụng do viêm tụy
- Tràn dịch màng bụng mật
- Tràn dịch màng bụng dịch dưỡng chấp
- Tràn dịch màng bụng do thận
- Tràn dịch màng bụng do nước tiểu
- Tràn dịch màng bụng phù mạch di truyền
- Tràn dịch màng bụng do bệnh lý u buồng trứng
- Viêm mạch
- Hội chứng Demond-Meigs
- Suy giáp
1.2. Nguyên nhân có liên quan đến tổn thương phúc mạc (SAAG <1.1 g/dL)
Bệnh nhân có thể bị tràn dịch màng bụng do mắc phải các bệnh lý nhiễm trùng như:
- Tràn dịch màng bụng do viêm phúc mạc do vi trùng
- Tràn dịch màng bụng do viêm phúc mạc do vi nấm
- Tràn dịch màng bụng do viêm phúc mạc lao
- Tràn dịch màng bụng do viêm phúc mạc ở bệnh nhân nhiễm HIV
Ung thư cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến tràn dịch màng bụng như:
- Tràn dịch màng bụng do ung thư di căn phúc mạc
- Tràn dịch màng bụng do Carcinom tế bào gan nguyên phát
- Tràn dịch màng bụng do do u trung phôi bào nguyên phát
Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như:
- Tràn dịch màng bụng do sốt Địa Trung Hải có tính di truyền
- Tràn dịch màng bụng do viêm mạch máu
- Tràn dịch màng bụng do viêm phúc mạc dạng hạt
- Tràn dịch màng bụng do viêm phúc mạc tăng bạch cầu ái toan
2. Triệu chứng tràn dịch màng bụng
Tràn dịch màng bụng ở mức độ nhẹ thường không có biểu hiện gì rõ rệt. Người bệnh thường chỉ phát hiện bệnh khi lượng dịch đã tăng nhiều kèm theo các biểu hiện như:
- Bụng căng, phồng to
- Rốn lồi
- Tăng cân không rõ nguyên nhân
- Khó thở, thở khò khè
- Phù nề vùng bụng
- Đầy hơi, chướng bụng, đầy bụng
- Luôn có cảm giác nặng nề ở vùng bụng
- Khó tiêu
- Ợ nóng
- Buồn nôn hoặc nôn mửa
- Mắc bệnh trĩ hoặc bị đau sưng xung quanh hậu môn
- Sưng mắt cá chân
- Người mệt mỏi
- Ăn không ngon
Triệu chứng tràn dịch màng bụng và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng ở mỗi bệnh nhân có thể khác nhau. Tùy thuộc vào từng nguyên nhân gây bệnh mà các bệnh nhân có thể gặp phải những triệu chứng khác như:
- Bệnh nhân bị tràn dịch màng bụng do ung thư sẽ có triệu chứng: bụng chướng to, ho, người mệt, khó thở, sưng phù hai chân, suy tim, phù phổi, tràn dịch màng phổi.
- Bệnh nhân bị tràn dịch màng bụng do suy tim sẽ có triệu chứng: khó thở, thở khò khè
- Bệnh nhân bị tràn dịch màng bụng do xơ gan sẽ có triệu chứng: vú to ở nam giới, nôn ra máu, rối loạn thần kinh...
Tràn dịch màng bụng có nguyên nhân và triệu chứng rất đa dạng, vì vậy cách tốt nhất để xác định chính xác tình trạng bệnh là bệnh nhân nên đi khám bác sĩ. Tại đây, bằng các phương pháp chẩn đoán hiện đại, bác sĩ sẽ kết luận được bạn có bị tràn dịch màng phổi không, mức độ tràn dịch đến đâu và nguyên nhân là gì, từ đó có phác đồ điều trị cụ thể.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Nếu không được điều trị, tình trạng loét đường tiêu hóa sẽ ngày càng nặng và dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như thủng dạ dày – ruột, chảy máu trong và hình thành sẹo.
Viêm loét đại tràng là một bệnh viêm ruột, trong đó đường tiêu hóa bị viêm và có các vết loét. Ở bệnh viêm loét đại tràng, tình trạng viêm xảy ra ở lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng (ruột già) và trực tràng, vì thế mà bệnh này còn được gọi là viêm loét đại trực tràng. Các triệu chứng của bệnh thường khởi phát và tăng dần theo thời gian chứ không xảy ra đột ngột.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.
Loét dạ dày là bệnh có thể chữa khỏi nhưng nếu trì hoãn hoặc không điều trị đúng cách thì tình trạng sẽ ngày càng nặng và còn dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn.





