Nguyên nhân phổ biến và sử dụng thuốc điều trị ho kéo dài - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Ho kéo dài
- Được định nghĩa là hiện tượng ho trên 4 tuần ở trẻ em và trên 8 tuần ở người lớn.
- Ho là một triệu chứng của rất nhiều bệnh, vì thế để điều trị ho người thầy thuốc phải dựa vào tính chất của cơn ho, nguyên nhân gây ra ho để tìm phương cách điều trị thích hợp.
- Ho khan hoặc ho có đờm, ho liên tục cả ngày và đêm hoặc ho ban ngày hoặc ho ban đêm, chỉ xuất hiện cơn ho khi nằm, ho từng cái một hay ho thành từng cơn.
- Ho kèm theo khó thở hai thì hoặc thì thở ra, ho kèm theo biểu hiện chảy dịch mũi sau, ho kèm theo sốt, đau họng...
- Thông thường, bác sĩ điều trị nguyên nhân gây ra ho, chứ không cắt cơn ho trừ trường hợp ho thành cơn ảnh hưởng tới sinh hoạt như không ăn được, không ngủ được.
Điều trị
Ho do trào ngược dạ dày thực quản
- Các thuốc kháng acid
- Các thuốc đối kháng thụ thể H2
- Các thuốc ức chế bơm proton như omeprazol
Ho do viêm xoang
- Kháng sinh: Tốt nhất là dùng theo kháng sinh đồ.
- Thuốc co mạch tại chỗ như xylometazolin.
- Các phương pháp điều trị hỗ trợ: Đưa thuốc vào xoang (Proetz), rửa mũi bằng NaCl 0,9%, khí dung mũi họng, chọc rửa xoang hàm.
Ho do viêm phế quản
- Thường dùng các thuốc giãn phế quản đường phun hít như ventoline, bricanyl hoặc khí dung ventolin nebules hoặc salbutamol uống hoặc brinoce uống.
Lưu ý khi dùng các thuốc cắt cơn ho
Codeine:
- Chất giúp làm giảm cường độ và tần suất các cơn ho, nhanh chóng loại bỏ các nguyên nhân gây ra bệnh ho.
- Codein có tác dụng giảm ho do ức chế trực tiếp trung tâm ho, nhưng làm khô và tăng độ quánh của dịch tiết phế quản.
- Dùng codein trong trường hợp ho khan gây khó chịu, mất ngủ.
- Không dùng thuốc cho người mẫn cảm với thuốc, trẻ em dưới 12 tuổi, bệnh gan, suy hô hấp, phụ nữ có thai.
- Các thuốc chứa codein có thể gây ra tác dụng phụ như: Đau đầu nhẹ hoặc có thể choáng, nhịp tim chậm lại, dễ kích động, phát ban dạng nhẹ hoặc sốt.
Sulfoguaacetal:
- Giúp nhanh chóng làm loãng đờm, giảm độ nhớt, độ quánh đặc của đàm nhầy trong phế quản.
Dextromethorphan:
- Thuốc có tác dụng ức chế trung tâm ho, chống ho tương tự codein, nhưng ít gây tác dụng phụ hơn.
- Dextromethorphan chỉ định tốt trong trường hợp ho khan, mạn tính và không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi, đang điều trị bằng thuốc ức chế monoaminoxydase (MAO).
- Đối với người có nguy cơ hoặc đang suy giảm hô hấp, tiền sử bị hen, dị ứng khi dùng cần hết sức thận trọng.
Thuốc kháng histamin:
- Kháng histamin H1 trung ương và ngoại biên (kháng H1 thế hệ 1) đồng thời có tác dụng chống ho, kháng cholinergic, kháng serotonin và an thần như alimemazin, diphenhydramin... được chỉ định các chứng ho khan do dị ứng, do kích thích, nhất là về ban đêm
- . Do thuốc có tác dụng an thần nên khi dùng thuốc vào ban ngày không được làm các công việc đòi hỏi sự tỉnh táo như lái xe, làm việc trên cao... vì dễ gây nguy hiểm.
- Tốt nhất là dùng thuốc vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Phòng ngừa
- Để hỗ trợ và phòng ngừa ho kéo dài, ngoài việc điều trị theo chỉ định của bác sĩ người bệnh cần lưu ý điều chỉnh thói quen, sinh hoạt:
- Không hút thuốc lá và tránh khói thuốc lá.
- Hạn chế tiếp xúc với các tác nhân dị ứng hoặc gây kích ứng như bụi bẩn, thú cưng, thay đổi nhiệt độ đột ngột, không khí ẩm; không sử dụng thực phẩm gây kích thích như chua cay, quá nóng hoặc quá lạnh,…
- Tập luyện thể dục thể thao và có chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để tăng cường sức đề kháng, hệ miễn dịch cho cơ thể.
- Tiêm vắc-xin phòng cúm, viêm phổi hoặc nhiễm khuẩn đường hô hấp trên theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Các loại thuốc điều trị thuyên tắc phổi (PE) có tác dụng làm giảm kích thước cục máu đông, giúp làm tan hoặc ngăn ngừa cục máu đông tái phát. Tuy nhiên, tất cả các loại thuốc này đều có nguy cơ gây chảy máu.
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng cục máu đông hình thành trong phổi do nhiều nguyên nhân. Phần lớn các trường hợp bị thuyên tắc phổi xuất phát từ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), tình trạng cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu của cơ thể.
Thuyên tắc phổi (PE) xảy ra khi một phần của cục máu đông từ tĩnh mạch sâu di chuyển đến phổi, gây tắc nghẽn mạch máu. Đây là một dạng của huyết khối tĩnh mạch (VTE).
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng tắc nghẽn một trong các động mạch phổi, chủ yếu là do do cục máu đông di chuyển từ tĩnh mạch ở chân (huyết khối tĩnh mạch sâu - DVT) đến phổi. Thuyên tắc phổi có thể đe dọa tính mạng, nhưng nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh có thể được kiểm soát hiệu quả.





