Nguy cơ lây nhiễm vi rút hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ nhỏ mùa thu đông - Bệnh viện Phổi trung ương
Nguồn lây truyền
- Nguồn bệnh là người nhiễm RSV.
- Bệnh có thể lây từ thời kỳ ủ bệnh đến thời kỳ có biểu hiện lâm sàng.
- RSV lây truyền dễ dàng qua đường hô hấp khi người bệnh ho, hắt hơi hoặc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh như hôn trẻ hoặc lây truyền gián tiếp do tiếp xúc với các bề mặt bị ô nhiễm, chất tiết của bệnh nhân.
Đối tượng
- Trẻ sinh non;
- Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi (gặp nhiều ở trẻ từ 2 3 tháng tuổi);
- Trẻ dưới 2 tuổi mắc bệnh tim, phổi bẩm sinh;
- Trẻ có hệ miễn dịch suy yếu (như suy dinh dưỡng, hóa trị,…);
- Người già yếu;
- Người bị bệnh tim, phổi mạn tính;
- Những người bị suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV, hóa trị, dùng các thuốc gây suy giảm miễn dịch,…).
Biểu hiện lâm sàng
- Thời kỳ ủ bệnh: từ khi nhiễm vi rút đến khi có biểu hiện bệnh trung bình từ 2 8 ngày.
- RSV thường gây bệnh ở đường hô hấp trên (mũi, họng) với các triệu chứng thường nhẹ và giống như cảm lạnh thông thường,
- Sốt cao liên tục;
- Khó thở (thở nhanh), có thể xuất hiện tím tái ở mô, đầu chi;
- Thở khò khè, có tiếng thở rít, có cơn ngừng thở;
- Ho nhiều với đờm vàng, xanh, đục;
- Trẻ quấy khóc nhiều hoặc mệt mỏi, lờ đờ, bỏ bú;
- Có dấu hiệu mất nước như khóc không ra nước mắt, không đi tiểu trong vòng 6 giờ, da khô nhăn nheo.
Chẩn đoán
- Có thể xét nghiệm phát hiện RSV trong dịch mũi họng hoặc dịch tiết đường hô hấp bằng cấy tìm vi rút hoặc các xét nghiệm phát hiện kháng nguyên của vi rút.
- Các xét nghiệm này không có nhiều lợi ích trên lâm sàng do bệnh chủ yếu ở thể nhẹ và chủ yếu là điều trị triệu chứng, không có điều trị đặc hiệu.
- Tuy nhiên, trong môi trường bệnh viện, việc xét nghiệm là rất cần thiết để cách ly các bệnh nhân dương tính với RSV nhằm làm giảm nguy cơ lan truyền bệnh.
- Ngoài ra, ở các bệnh nhân có nguy cơ cao, việc xác định nhiễm RSV có thể giúp cân nhắc sử dụng thuốc Ribavirin ở những bệnh nhân này.
Điều trị
- Thuốc kháng sinh không có tác dụng với RSV. Hiện không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với RSV nên cần điều trị hỗ trợ dựa vào mức độ bệnh.
- Đối với đa số các trường hợp, trẻ bị nhiễm RSV thường có triệu chứng nhẹ hoặc có các biểu hiện viêm tiểu phế quản nhẹ, nếu không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà.
- Khi trẻ có những dấu hiệu nghiêm trọng hơn cần được nhập viện điều trị.
Phòng bệnh
- Rửa tay sạch sẽ mỗi khi tiếp xúc với trẻ, đặc biệt là khi đi ra ngoài, đến các khu vực đông đúc, nơi vui chơi có nhiều người, sau khi tiếp xúc với người có triệu chứng tương tự như cảm cúm.
- Nếu cha mẹ hay người thân bị bệnh thì tuyệt đối không được đến gần, bế trẻ hay ôm hôn trẻ.
- Làm sạch các bề mặt, dụng cụ có thể bị ô nhiễm mầm bệnh.
- Không để người lạ mặt tiếp xúc với trẻ, đặc biệt không cho hôn trẻ.
- Hạn chế đưa trẻ đến những nơi đông người, nóng bức, thiếu khí.
Nguồn: Bệnh viện Phổi trung ương
Viêm phổi có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng thường xuất hiện vào mùa đông và mùa xuân, thường là sau khi bị nhiễm trùng hô hấp trên hoặc cảm lạnh. Nếu bạn cho rằng con của bạn có thể bị viêm phổi, hãy cho bé đi khám bác sĩ ngay.
Triệu chứng của các bệnh về đường hô hấp thường có tính tương đồng, điều này gây khó khăn và trở ngại trong quá trình chẩn đoán và điều trị.
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng cục máu đông hình thành trong phổi do nhiều nguyên nhân. Phần lớn các trường hợp bị thuyên tắc phổi xuất phát từ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), tình trạng cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu của cơ thể.
Thuyên tắc phổi (PE) xảy ra khi một phần của cục máu đông từ tĩnh mạch sâu di chuyển đến phổi, gây tắc nghẽn mạch máu. Đây là một dạng của huyết khối tĩnh mạch (VTE).
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.





