Hội chứng ống cổ tay - bệnh viện 103
Hội chứng ống cổ tay (Carpal Tunnel Syndrome)
- Là một hội chứng thường hay gặp trong lâm sàng.
- Trong hội chứng này, dây thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay.
- Theo thống kê ở Mỹ năm 2005 có tới 16440 người lao động phải nghỉ việc do bị hội chứng ống cổ tay.
- Việc được phát hiện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng.
Cơ chế sinh bệnh:
- Về giải phẫu học, thần kinh giữa đi chung với những gân cơ gấp của các ngón tay trong ống cổ tay.
- Ống cổ tay được tạo bởi mạc giữ gân gấp và các vách chung quanh là bờ của các xương cổ tay.
- Chính vì nằm trong một cấu trúc không co giãn được nên khi có sự tăng thể tích của các gân gấp bị viêm (hay các tư thế gấp duỗi cổ tay quá mức và thường xuyên) thì sẽ tạo một lực chèn ép lên các mạch máu nuôi nhỏ đi sát bên dây thần kinh, gây ra tình trạng thiểu dưỡng.
- Tăng áp lực trong ống cổ tay dẫn đến rối loạn dẫn truyền sợi trục và thiêu máu màng ngoài của dây thần kinh. Lâu dần gây các triệu chứng lâm sàng tổn thương dây giữa.
Nguyên nhân:
- Có nhiều nguyên nhân gây bệnh, trong đó thường gặp như công việc vận động cổ tay nhiều, chấn động rung do dụng cụ cầm tay, thoát vị bao hoạt dịch khớp cổ tay, viêm - xơ hóa các dây chằng vùng cổ tay,….
- Hội chứng này còn hay gặp trong các chứng viêm đa dây thần kinh do đái tháo đường, nhiễm độc rượu mạn tính..
Chẩn đoán:
- Tê bì hoặc dị cảm đau ở bàn tay và các ngón thuộc chi phối của dây giữa (ngón I, II, III, và 1/2 của ngón IV) và gan bàn tay tương ứng với các ngón đó.
- Đau tăng về đêm hoặc khi gấp duỗi cổ tay nhiều lần.
- Teo cơ ô mô cái.
- Dấu hiệu Tinel dương tính: Gõ trên ống cổ tay ở tư thế duỗi cổ tay tối đa gây cảm giác đau hay tê giật lên các ngón tay
- Dấu hiệu Phalen dương tính: Khi gấp cổ tay tối đa (đến 90º) trong thời gian ít nhất là 1 phút gây cảm giác tê tới các đầu ngón tay.
Tiêu chuẩn cận lâm sàng:
- Thời gian tiềm dây giữa cảm giác > 3,2 ms và vận động > 4,2 ms.
- Tốc độ đo dẫn truyền cảm giác, vận động dây giữa < 50m/s ở cổ tay.
- Siêu âm đầu dò phẳng tần số 12 HZ: CSA – I (Thiết diện cắt ngang đầu vào) lớn hơn 9,5mm2 và CSA – O (Thiết diện cắt ngang đầu ra) lớn hơn 9,2mm2.
Điều trị:
- Bệnh nhân cần tránh các cử động lặp lại nhiều lần của cổ tay.
- Dùng nẹp cổ tay cho những bệnh nhân có nghề nghiệp phải cử động cổ tay nhiều.
- Giảm áp lực trong ống cổ tay bằng cách cắt dây chằng ngang cổ tay.
- Ðiều chỉnh các khối can xương hay xương trật để ống cổ tay không bị hẹp và không gây đè ép vào dây thần kinh giữa.
- Điều trị bảo tồn bằng các thuốc kháng viêm NSAIDs hay tiêm corticoide tại chỗ làm giảm hiện tượng viêm của các gân gấp trong ống cổ tay và các loại thuốc tăng dẫn truyền thần kinh như vitamin B, Nivalin, Nucleo CMP.
Nguồn: Bệnh viện 103
Gãy xương cẳng tay, cánh tay là tình trạng gãy một trong ba xương tạo nên cánh tay là xương trụ (ulna), xương quay (radius) và xương cánh tay trên (humerus) hoặc cũng có thể gãy nhiều xương cùng một lúc. Một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây gãy xương cẳng tay, cánh tay là do ngã. Nếu nghi ngờ gãy xương cẳng tay, cánh tay thì phải đến bệnh viện ngay. Can thiệp điều trị kịp thời giúp tránh xảy ra biến chứng và khôi phục hình dạng bình thường của xương.
Viêm khớp ở ngón tay gây sưng khớp, giảm chức năng khớp và các triệu chứng khác. Viêm khớp còn có thể gây biến dạng khớp và các ngón tay.
Viêm khớp là một vấn đề rất phổ biến. Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ khớp nào trên cơ thể nhưng thường xảy ra ở các khớp ở chân tay như cổ tay, ngón tay, đầu gối, hông, mắt cá chân. Tình trạng viêm khớp có thể xảy ra ở nhiều khớp cùng lúc.
Gãy xương bàn tay là khi một hoặc nhiều xương của bàn tay bị gãy hoặc nứt, nguyên nhân thường là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, ngã hoặc chơi các môn thể thao dễ va đập mạnh như bóng đá, bóng rổ, khúc côn cầu. Xương bàn tay có thể bị gãy thành nhiều mảnh và phải phẫu thuật.
Gãy xương cổ tay là tình trạng gãy hoặc nứt một hoặc nhiều xương ở cổ tay. Gãy xương cổ tay thường xảy ra do chống tay xuống khi ngã.





