Hội chứng chèn ép khoang sau can thiệp nội mạch
1. Hội chứng chèn ép khoang là gì?
Trong cơ thể, các khoang kín chạy dọc theo một đoạn chi như cánh tay, cẳng chân...với áp lực bình thường trong khoang là từ 0-5 mmHg. Tuy nhiên, do một số nguyên nhân nào đó làm tăng áp lực mô mềm trong khoang cứng sẽ gây ra hội chứng chèn ép khoang gây ra việc giảm lưu thông máu qua khoang dẫn đến tình trạng thiếu máu cục bộ.
Hội chứng chèn ép khoang bao gồm hai dạng cấp tính và mãn tính. Trong đó chèn ép khoang cấp tính diễn ra nhanh chóng gây tổn thương đến cơ, mạch máu và hệ thần kinh. Chèn ép khoang mãn tính thường ít xảy ra hơn, thông thường xảy ra với người hoạt động thường xuyên, liên tục ở các vùng cẳng tay, bàn chân...
2. Nguyên nhân hình thành hội chứng chèn ép khoang
Nguyên nhân hình thành hội chứng chèn ép khoang chủ yếu là do các tai nạn như: Tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt dẫn đến gãy xương, chấn thương mạch máu, phần mềm...trong số đó gãy xương gây ra hội chứng chèn ép khoang chiếm tỷ lệ 45%.
Bên cạnh các nguyên nhân do tai nạn gây ra, sau đây là một số nguyên nhân khác cũng gây ra hội chứng chèn ép khoang:
- Bệnh nhân sau khi mổ kết hợp xương
- Người dùng thuốc chống đông, tiêm calci
- Người bệnh rối loạn đông máu
- Người bệnh béo phì, người cao tuổi, người bệnh xơ vữa thành mạch
- Bệnh nhân không hợp tác khi băng ép hoặc bác sĩ có xảy ra sai sót trong quá trình thực hiện kỹ thuật ép và băng ép.
- Biến chứng phù nề hoại tử tổ chức do bị rắn cắn hay bị bỏng
3. Cơ chế chèn ép khoang diễn ra như thế nào?
Theo các nghiên cứu y tế, cơ chế chèn ép khoang diễn ra như sau:
Vòng xoáy bệnh lý: Sự tăng trưởng thể tích các thành phần trong một khoang kín do máu chảy từ ổ gãy vào trong các khoang, sự di lệch của đầu xương gãy hay phù nề tổ chức do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra áp lực trong khoang và tác động trở lại chèn ép các tổ chức trong khoang đó có mạch máu thần kinh.
Việc tăng áp lực khoang sẽ dẫn đến chèn ép tĩnh mạch sau đó gây ứ máu tĩnh mạch ở ngoại vi và gây tăng thẩm dịch ra ngoài thành mạch làm áp lực khoang ngày càng tăng cao dẫn đến tình trạng chèn ép động mạch. Động mạch bị chèn ép khiến máu không thể đến được chi gây ra tình trạng thiếu máu nuôi dưỡng cấp tính gây hoại tử tổ chức hoặc hoại tử chi.
4. Chẩn đoán hội chứng chèn ép khoang
Người bệnh được thực hiện chẩn đoán hội chứng chèn ép khoang càng sớm thì việc điều trị hội chứng này càng thuận lợi hơn với hiệu quả phục hồi cao. Thông thường, việc chẩn đoán hội chứng chèn ép khoang thông qua khám lâm sàng. Đối với bệnh nhân bị chèn ép khoang không phải do tai nạn gãy xương, người bệnh sẽ có các biểu hiện như: Đau và cơn đau ngày càng tăng lên. Khi sờ lên mặt da thấy cứng và căng bóng ở vùng khoang bị chèn ép. Bên cạnh đau, bệnh nhân cảm thấy tê bì, giảm cảm giác hoặc bị rối loạn vận động. Trong trường hợp bệnh nhân bị chèn ép khoang do nguyên nhân gãy xương hoặc chấn thương, thời gian xảy ra chèn ép khoang thường sau 2-6 giờ. Đây cũng là thời điểm vàng để chẩn đoán và điều trị đối với hội chứng này.
Mặc dù đa phần chỉ cần thông qua khám lâm sàng, bác sĩ đã có thể chẩn đoán được hội chứng chèn ép khoang, tuy nhiên một số trường hợp không thể khai thác được các dấu hiệu lâm sàng như: Bệnh nhân bị hôn mê hay bệnh nhân là trẻ em, bác sĩ sẽ tiến hành đo áp lực trong khoang để xác định chẩn đoán. Trường hợp chỉ số áp lực khoang nhỏ hơn 30 mmHg, bệnh nhân có thể tự hồi phục và không cần can thiệp điều trị, nếu chỉ số đo lớn hơn hoặc bằng 30 mmHg thì được đánh giá là ngưỡng điều trị bảo tồn và cần phải phẫu thuật giải áp.
5. Điều trị hội chứng chèn ép khoang
Hội chứng chèn ép khoang xảy ra với tính chất đe dọa và thời gian không quá 6 tiếng thì tiến hành điều trị bảo tồn bằng các cách sau:
- Loại bỏ các nguyên nhân gây chèn ép như băng bó quá chặt, cắt bỏ chỉ khâu kín da...
- Bác sĩ chỉ định sử dụng thuốc giảm đau
- Theo dõi diễn biến chèn ép khoang liên tục từng giờ, nếu tiến triển không tốt thì có phương hướng điều trị kế tiếp
Trường hợp hội chứng chèn ép khoang diễn ra từ 6 -15 giờ thì cần tiến hành phẫu thuật tức thì bằng cách rạch và cân mạch để giải phóng chèn ép, đồng thời cắt lọc mô chết để tránh nhiễm trùng
Nếu người bệnh bị chèn ép khoang xảy ra quá 15 giờ đồng hồ, bác sĩ cần cân nhắc giữa phẫu thuật giải chèn ép và đoạn chi vì nếu thực hiện phẫu thuật giải chèn ép sẽ có nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh như trụy tim, suy thận vô niệu...
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 1044 lượt xem
Đã từ lâu, xông hơi trị cảm được nhiều người, nhiều thế hệ sử dụng như một biện pháp giải cảm và phòng ngừa bệnh cảm cúm. Tuy nhiên, không phải lúc nào biện pháp xông hơi trị cảm cũng nên được sử dụng.
Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn tiêu hoá gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón. Nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng này vẫn chưa được xác định nhưng các tác nhân kích hoạt triệu chứng gồm có mốt số loại thực phẩm, đồ uống và stress.
Lăn kim là một phương pháp thẩm mỹ hiệu quả nhằm kích thích lưu thông máu trên da, giảm sẹo mụn và tăng cường sản xuất collagen. Tuy nhiên, quy trình này đôi khi có thể gây tổn thương da, người thực hiện phương pháp này phải chăm sóc da sau lăn kim để củng cố hàng rào bảo vệ da trong quá trình lành lại.
Nếu bạn đang phải khổ sở vì những đêm trằn trọc mất ngủ thì việc ngủ được ngay chỉ sau vài phút nằm xuống giường quả là một niềm mơ ước. Tuy nhiên, thật sự có những cách giúp bạn có thể chìm vào giấc ngủ chỉ sau 120, 60 hoặc thậm chí là 10 giây.
Sắt là một khoáng chất cần thiết trong cơ thể con người. Sắt tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu – các tế bào máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Nồng độ sắt thấp hay thiếu sắt sẽ gây mệt mỏi và làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ sắt quá cao?





