Dinh dưỡng ở phụ nữ cho con bú (kiến thức cơ bản)
1. Tổng quan về dinh dưỡng ở phụ nữ cho con bú
Phụ nữ cho con bú gia tăng nhu cầu sử dụng calo và chất dinh dưỡng để duy trì dinh dưỡng cho bản thân trong quá trình giảm cân sau khi tăng cân ở thời kỳ mang thai. Theo đó, những phụ nữ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ cần thêm 500 calo/ngày để tạo sữa cho con cũng như đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho mẹ.
Đối với phụ nữ không nhận được số calo và dinh dưỡng theo khuyến cáo hàng ngày, cũng có thể không ảnh hưởng đến lượng sữa sản xuất ra hàng ngày. Tuy nhiên, chất lượng sữa sẽ bị ảnh hưởng do không đủ một số thành phần vitamin và khoáng chất như vitamin A, thiamin (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), vitamin B6, Selen, Iod). Phụ nữ không bổ sung đủ vitamin và khoáng chất thông qua chế độ ăn có thể cần bổ sung thêm bằng các loại thực phẩm chức năng.
Dinh dưỡng cần bổ sung thêm ở phụ nữ trong các giai đoạn như sau:
- Từ khi mới sinh đến 6 tháng: Nhiều hơn 330 calo/ngày so với phụ nữ không cho con bú.
- Từ 6 tháng đến 12 tháng sau khi sinh: Nhiều hơn 400 calo/ngày so với phụ nữ không cho con bú.
Đối với phụ nữ có chỉ số khối cơ thể (BMI) khỏe mạnh và chiều cao trung bình tổng năng lượng cần thiết là 2100-2700 calo/ngày trong 6 tháng đầu sau sinh và 2200-2800 calo/ngày trong thời gian sau đó, tùy thuộc vào độ tuổi, cân nặng, mức độ hoạt động của bạn.
Lượng nước đưa vào cơ thể: Trung bình phụ nữ cho con bú sản xuất khoảng 750ml sữa/ngày. Rất nhiều phụ nữ lăn tăn không biết bổ sung bao nhiêu nước để bù lại. Nhìn chung, bạn cần uống theo nhu cầu hàng ngày khi khát, để ý các triệu chứng thiếu nước quá mức như khô miệng, nước tiểu sẫm màu, tiểu ít.
XEM THÊM: Chế độ dinh dưỡng sau sinh cho bà mẹ cho con bú
2. Giảm cân ở phụ nữ cho con bú
Sau khi sinh, phụ nữ có xu hướng giảm dần cân nặng mà họ đã đạt được khi mang thai. Giảm cân vừa phải bằng cách ăn ít hơn và tăng cường tập luyện, vận động thường xuyên sẽ ít ảnh hưởng đến lượng sữa mẹ sản xuất ra.
XEM THÊM: Ăn gì để sữa mẹ đặc, mát, con tăng cân?
3. Vitamin và khoáng chất ở phụ nữ cho con bú
Nếu bạn là người khỏe mạnh và ăn uống với chế độ dinh dưỡng cân bằng bao gồm thịt, cá thì có thể không cần bổ sung thêm vitamin trong quá trình cho con bú. Tuy nhiên, nếu chế độ ăn uống không cân bằng, không bổ sung đủ các vitamin và khoáng chất thiết yếu, bạn có thể bổ sung thêm vitamin tổng hợp. Các chuyên gia khuyến cáo, dù có cho con bú hay không thì bạn vẫn cần đảm bảo lượng calci và vitamin D đưa vào cơ thể.
Một số loại dưỡng chất phụ nữ cho con bú cần bổ sung như sau:
- Canxi: Mang thai và cho con bú làm giảm mật độ xương tạm thời, tuy nhiên sẽ hồi phục khi bạn dừng cho con bú. Một phụ nữ sẽ tiêu thụ tối thiểu 1000 mg calci/ngày trước, trong quá trình mang thai và trong quá trình cho con bú. Các nguồn thực phẩm chứa calci phụ nữ cho con bú cần bổ sung bao gồm sữa, sữa chua, phô mai, rau lá xanh, trứng...
- Vitamin D: Hấp thu calci phụ thuộc vào lượng vitamin D thích hợp. Cả phụ nữ bình thường và phụ nữ cho con bú đều cần bổ sung 600 đơn vị vitamin D/ngày. Học viện trẻ em Hoa Kỳ (APP) khuyến cáo tất cả các trẻ bú mẹ cần bổ sung 400 đơn vị vitamin D/ngày sớm sau khi sinh do lượng vitamin D bài tiết vào sữa mẹ khá thấp, mặc dù mẹ đã bổ sung 600 đơn vị vitamin D/ngày. Thực tế, vitamin D có thể hình thành khi da bé tiếp xúc với ánh sáng mặt trời nhưng các chuyên gia khuyến cáo không nên cho trẻ tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời để giảm nguy cơ ung thư da về lâu dài.
- Sắt: Thiếu sắt là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu. Phụ nữ không bị thiếu máu sau sinh có thể không cần bổ sung sắt. Tránh việc bổ sung lượng sắt quá mức cần thiết dẫn đến táo bón, khó chịu. Phụ nữ bị thiếu máu sau sinh thường cần bổ sung sắt (có thể chế phẩm chứa sắt riêng biệt hoặc vitamin tổng hợp trong đó chứa lượng sắt cần thiết).
- Iod: Hiệp hội tuyến giáp Hoa Kỳ (AIP) khuyến cáo phụ nữ cho con bú nên bổ sung vitamin tổng hợp có chứa 150mcg iod hàng ngày ngoài việc sử dụng muối ăn có iod. Khuyến cáo này dựa trên chế độ iod cần bổ sung hàng ngày ở phụ nữ cho con bú là 290mcg/ngày. Các nguy cơ chính của thiếu iod là chế độ ăn không có muối iod hoặc các sản phẩm từ sữa.
- Omega-3: AAP khuyến cáo phụ nữ cho con bú bổ sung 200-300mg axit béo omega-3 mỗi ngày. Bạn có thể đáp ứng nhu cầu này bằng cách ăn một đến hai khẩu phần cá mỗi tuần như: cá trích, cá ngừ đóng hộp, cá hồi. Để giảm thiểu tiếp xúc với thủy ngân, các bà mẹ nên tránh các loại cá như: cá mập, cá kiếm, cá thu, cá ngói vì có hàm lượng thủy ngân cao.
Ngoài những dưỡng chất được khuyến khích bổ sung thì phụ nữ cho con bú cũng cần hạn chế một số loại thực phẩm, đồ uống như: Rượu, caffeine, thuốc lá. Bên cạnh đó, khi sử dụng bất kỳ thuốc nào khi đang cho con bú, bạn cần nêu rõ tình trạng bệnh, lý do dùng thuốc cũng như hỏi ý kiến bác sĩ để tránh ảnh hưởng đến trẻ và lượng sữa tiết ra. Nếu còn băn khoăn về chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn này, bạn có thể tìm hiểu về tháp dinh dưỡng cho bà mẹ sau sinh, đang cho con bú để vừa giúp cho cơ thể khỏe mạnh, vừa đảm bảo chất lượng sữa cho con.
Tài liệu tham khảo:
- Patient education: Maternal health and nutrition during breastfeeding, Uptodate truy cập ngày 27/02/2021
Chế độ ăn là một phần quan trọng trong điều trị viêm thực quản bạch cầu ái toan (VTQDBCAT). Bác sĩ điều trị sẽ tư vấn cho bệnh nhân thật đầy đủ và phối hợp với bệnh nhân trong việc thực hiện các phác đồ này.
Chanh là một thực phẩm được sử dụng phổ biến nhất và được sử dụng hàng ngày. Mặc dù vậy, vẫn có một số người dị ứng với chanh cũng như các thực phẩm thuộc họ cam quýt. Nguyên nhân có thể do dị ứng các axit citric hoặc protein có trong chanh. Bài viết này có thể sẽ giúp bạn hiểu thêm về dị ứng chanh.
Thịt gà là loại thực phẩm yêu thích của chị em nội trợ do thịt gà cung cấp nhiều chất dinh dưỡng mà không chứa nhiều chất béo. Thêm vào đó, thịt gà lại rất dễ chế biến tại nhà hoặc các nhà hàng. Chắc hẳn có lúc bạn sẽ tự hỏi mình rằng một đĩa thịt gà cung cấp bao nhiêu dinh dưỡng và nó có phải là thực phẩm làm tăng cholesterol hoặc có bất kỳ tác hại nào về sức khoẻ không?
Khoai tây được trồng đầu tiên bởi người dân bản địa tại dãy núi Andes ở Nam Mỹ. Cho tới nay, hàng ngàn giống khoai tây đã được trồng trên toàn thế giới. Mặc dù khoai tây có xu hướng giữ được lâu nhưng bạn có biết chính xác là chúng nên được bảo quản bao lâu trước khi chúng trở nên kém chất lượng và cần phải bỏ đi?
Cháo là món ăn thường được bác sĩ khuyến khích sử dụng cho người ốm, bởi đây là món ngon dễ tiêu hóa và chứa nhiều các chất dinh dưỡng cần thiết. Tuy nhiên, rất nhiều người không biết nên nấu món cháo gì để mau chóng phục hồi sức khỏe? Dưới đây là một vài công thức nấu cháo cho người ốm thơm ngon, bạn có thể đọc và tham khảo!
Thường xuyên ăn hạt óc chó giúp cải thiện sức khỏe não bộ, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và ung thư.
Dù ăn nhiều hay ăn ít thì mỗi người cũng chỉ có thể ăn một lượng thức ăn có giới hạn trong một ngày. Để cung cấp cho cơ thể lượng chất dinh dưỡng tối đa mà không nạp vào quá nhiều calo thì nên lựa chọn các loại thực phẩm lành mạnh và giàu dinh dưỡng.
Cà chua là một trong những nguồn cung cấp chất chống oxy hóa lycopene chính trong chế độ ăn uống. Chất này mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, gồm có giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và ung thư.
Yến mạch là một trong những loại ngũ cốc lành mạnh nhất và là nguồn cung cấp nhiều vitamin, khoáng chất và các hợp chất thực vật cần thiết cho cơ thể.
Các loại đậu có giá trị dinh dưỡng cao, cung cấp hầu hết các chất mà cơ thể cần và ngoài ra còn có nhiều lợi ích như hỗ trợ giảm cân, bảo vệ sức khỏe tim mạch và kiểm soát bệnh tiểu đường.





