1

Điều trị ung thư bằng xạ trị - bệnh viện 103

1. Nguyên tắc điều trị ung thư

Ung thư là một bệnh lý ác tính, tuy nhiên có thể điều trị khỏi nếu thực hiện tốt các nguyên tắc điều trị sau đây.

1.1. Phối hợp các phương pháp điều trị

Các phương pháp chính điều trị ung thư hiện nay là: phẫu thuật, xạ trị, hoá trị, điều trị miễn dịch. Chỉ thực hiện đơn trị liệu trong trường hợp bệnh được phát hiện sớm và loại ung thư nhạy cảm với phương pháp điều trị. Với đa số các trường hợp ung thư đều phải phối hợp các phương pháp mới có thể đạt được hiệu quả điều trị tốt vì:

  • Đặc điểm của tổ chức và tế bào ung thư là phát triển mạnh tại chỗ, xâm lấn ra các tổ chức xung quanh, di căn xa.
  • Đa số bệnh nhân đến với thầy thuốc thì bệnh đã ở giai đoạn muộn.
  • Đáp ứng của mỗi loại ung thư với phương pháp điều trị rất khác nhau, vì vậy khi phối hợp các phương pháp điều trị có thể sẽ đưa lại hiệu quả cao hơn.

1.2. Xác định mục đích điều trị

  • Điều trị triệt căn, điều trị hỗ trợ hoặc điều trị triệu chứng. Để xác định được mục đích cần phải có chẩn đoán chính xác và cụ thể cho từng bệnh nhân.
  • Chẩn đoán chính xác loại ung thư nguyên phát: căn cứ vào kết quả giải phẫu bệnh lý (tiêu chuẩn vàng và bắt buộc), phân chia thành các nhóm nhỏ để hiểu rõ bản chất của tổ chức ung thư giúp cho phép tiên lượng, chỉ định phương pháp điều trị thích hợp.

– Xác định đúng giai đoạn bệnh: phải căn cứ vào kết quả thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng để chẩn đoán giai đoạn bệnh. Việc xác định giai đoạn bệnh đối với từng loại ung thư có khác nhau tuy nhiên thông dụng nhất hiện nay là xếp loại ung thư theo hệ thống TNM của UICC cho từng bệnh nhân với mỗi loại ung thư cụ thể.

1.3. Lập kế hoạch điều trị

Để lập kế hoạch điều trị cho một bệnh nhân ung thư phải căn cứ vào:

  • Chẩn đoán lâm sàng.
  • Tiến triển của bệnh.
  • Chẩn đoán giải phẫu bệnh lý.
  • Mục đích của điều trị.

Kế hoạch điều trị và chăm sóc phải toàn diện và chi tiết cho từng giai đoạn, điều này có vai trò quan trọng quyết định hiệu quả điều trị.

Khi lập kế hoạch điều trị việc lựa chọn phương pháp điều trị khởi đầu cho bệnh nhân (phẫu thuật, xạ trị hay hoá trị) là hết sức quan trọng.

Trong quá trình thực hiện kế hoạch và theo dõi kết quả điều trị, thấy những điểm, những biện pháp không phù hợp hoặc bệnh nhân có diễn biến bất thường thì phải bổ sung, điều chỉnh kế hoạch nhằm đạt được kết quả điều trị tối ưu nhất, đồng thời hạn chế các biến chứng có thể xảy ra cho bệnh nhân.

1.4. Theo dõi kết quả điều trị

Ung thư là bệnh có nguy cơ cao di căn xa, tái phát và có nhiều biến chứng sau điều trị, vì vậy theo dõi tiến triển của bệnh và kết quả điều trị thông qua khám định kỳ là việc làm bắt buộc nhằm mục đích:

  • Phát hiện và khắc phục các biến chứng do điều trị gây nên.
  • Phát hiện sớm di căn và tái phát của ung thư.
  • Trong 2 năm đầu yêu cầu khám định kỳ 2 – 3 tháng/lần, những năm tiếp theo 6 tháng /lần cho đến hết cuộc đời của bệnh nhân.

2. Các phương pháp điều trị ung thư

Mục tiêu của điều trị ung thư là phải lấy hết khối ung thư và/ hoặc tiêu diệt được toàn bộ các tế bào ung thư có trong cơ thể.

Ngày nay cùng với căn bệnh của thế kỷ HIV-AIDS mà Thế giới đang phải đương đầu, ung thư cũng là một thách thức to lớn của nền y học hiện đại. Phát hiện bệnh sớm, điều trị sớm, tích cực và triệt để với nhiều mô thức và phương tiện hữu hiệu sẽ giúp cứu sống và điều trị khỏi cho nhiều người bệnh ung thư. Các phương pháp điều trị ung thư hiện nay là: phẫu thuật, xạ trị, hoá trị. Miễn dịch trị liệu là hướng mới đang được nghiên cứu ứng dụng và hứa hẹn nhiều triển vọng. Lựa chọn phương pháp điều trị đầu tiên đúng đắn, phối hợp các phương pháp hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả điều trị.

2.1. Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp được sử dụng sớm nhất, qua nhiều thế kỷ cho đến nay vẫn là phương pháp điều trị ung thư chủ yếu, cơ bản và hữu hiệu. Theo thống kê của Tổ chức chống ung thư Quốc tế có tới 80% bệnh nhân ung thư được điều trị bằng phẫu thuật. Ở Việt Nam tỷ lệ này còn thấp hơn, một phần do thiếu điều kiện, một phần do thiếu hiểu biết, một số còn cho rằng đối với ung thư nếu “đụng dao kéo vào” bệnh sẽ phát triển nhanh, sớm đi đến tử vong hơn.

Mục đích của phẫu thuật gồm có: phẫu thuật dự phòng, phẫu thuật chẩn đoán và phẫu thuật điều trị (triệt căn hoặc triệu chứng).

– Ưu điểm của phẫu thuật

  • Có khả năng điều trị khỏi một số BN đang ở giai đoạn tại chỗ (I, II).
  • Loại bỏ một cách nhanh nhất khối u ra khỏi cơ thể và đánh giá tương đối chính xác mức độ xâm lấn, di căn khu vực, đồng thời làm chẩn đoán giải phẫu bệnh lý, cho phép chẩn đoán chính xác loại ung thư.
  • Ung thư không có sự đề kháng sinh học đối với phẫu thuật.
  • Không có nguy cơ tiềm tàng gây ung thư thứ phát (như xạ trị, hoá trị).

– Nhược điểm của phẫu thuật

  • Phẫu thuật cắt bỏ khối u thì đồng thời sẽ gây tổn thương các mô, tổ chức lành và khó có thể lấy hết khối u đã có sự xâm lấn mà mắt thường không nhìn thấy được hoặc ở những vị trí nguy hiểm.
  • Phẫu thuật có nhiều biến chứng cấp tính có thể đe doạ đến tính mạng và/hoặc để lại di chứng làm ảnh hưởng đến sức khoẻ, chức năng giải phẫu và sinh lý của bệnh nhân.
  • Phẫu thuật không thực hiện được đối với những trường hợp ung thư ở giai đoạn muộn, có di căn xa, ở những vùng giải phẫu đặc biệt của cơ thể hoặc ở những bệnh nhân tuổi cao, có các bệnh lý phối hợp.

2.2. Xạ trị

Là phương pháp điều trị ung thư mà trong đó người ta sử dụng bức xạ ion hoá năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư.

Xạ trị ung thư xuất hiện vào đầu thế kỷ 20. Ngày nay nhờ sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học và công nghệ, các thiết bị có công nghệ tiên tiến ra đời, xạ trị đang chứng tỏ là phương tiện hữu hiệu và ưu việt trong các phương pháp điều trị ung thư.

– Ưu điểm của phương pháp xạ trị

  • Đối với ung thư giai đoạn sớm, bức xạ ion – hoá có khả năng điều trị khỏi tương tự như phẫu thuật, thậm chí trong một số trường hợp, xạ trị còn tỏ ra ưu việt hơn phẫu thuật do ít gây tổn thương và rối loạn chức năng của cơ quan và tổ chức lân cận hơn và ít gây đau đớn hơn.
  • Chiếu xạ có thể điều trị được ung thư ở một số vị trí mà các phương pháp khác không có khả năng can thiệp hoặc nếu can thiệp dễ gây ảnh hưởng nặng nề,  làm mất chức năng tổ chức lành xung quanh (ung thư vòm họng).
  • Chiếu xạ còn được dùng trong một số trường hợp như: giảm đau (trong di căn cột sống, xương), giảm chèn ép do khối u quá lớn, cầm máu.
  • Chiếu xạ không gây độc toàn thân, không gây nên những biến chứng cấp tính đe doạ tính mạng của người bệnh.

– Nhược điểm của xạ trị

  • Vùng lõi của khối u thường bị hoại tử, thiếu oxy, do đó ít nhạy cảm với tia xạ hơn, vì vậy sự tái phát thường từ các tế bào ở vùng trung tâm của khối ung thư.
  • Sự nhạy xạ của các mô lành và cơ quan khác nằm sát cạnh u là yếu tố cản trở việc nâng liều xạ đến mức tối đa để có thể tiêu diệt hoàn toàn khối ung thư.
  • Bức xạ ion hoá có nguy cơ gây ung thư thứ phát.

2.3. Hoá trị

Hoá trị là phương pháp được đưa vào áp dụng từ thập niên 40 của thế kỷ trước và nhanh chóng được giới y học công nhận là một phương pháp điều trị ung thư chính thức. Đầu tiên hoá trị được sử dụng điều trị ung thư hệ tạo máu, sau đó người ta nhận thấy hoá chất cũng có tác dụng đối với những khối u đặc như: carcinoma tế bào đệm, ung thư tinh hoàn. Thời gian đầu hoá trị được sử dụng nhiều đối với những trường hợp ung thư đã có di căn xa. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ hoá dược, hoá trị liệu được sử dụng rộng rãi trong hầu hết các loại ung thư ở các giai đoạn khác nhau. Tuy nhiên hiệu quả của hoá trị ung thư còn tỏ ra hạn chế khi khối ung thư quá lớn và trong trường hợp ung thư còn khu trú tại chỗ, tại vùng thì hoá trị đơn thuần cũng không đủ khả năng làm tan hoàn toàn khối u mà cần phải dựa vào các phương pháp điều trị khác như: phẫu thuật, chiếu xạ.

Nhược điểm của hoá trị là:

  • Các thuốc ung thư chỉ hữu hiệu khi tổng tế bào khối ung thư còn nhỏ (dưới một tỷ tế bào).
  • Mật độ tưới máu của khối u không đồng đều do vậy thuốc khó đến được vùng trung tâm của khối ung thư nơi có hệ thống mạch máu nghèo nàn.
  • Các tế bào ung thư có cơ chế thải độc dẫn tới kháng thuốc sau một số chu kỳ hóa trị.
  • Các hoá chất gây độc cho nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể là cản trở lớn cho điều trị.
  • Các hoá chất có nguy cơ tiềm tàng sinh ung thư thứ phát về sau.

2.4. Miễn dịch liệu pháp

Miễn dịch liệu pháp là phương pháp ra đời muộn nhất trong các phương pháp điều trị ung thư.

Ưu điểm của liệu pháp miễn dịch là tính đặc hiệu cao và có tác dụng toàn thân. Vào những năm 90 của thế kỷ 20 việc ứng dụng các interferon, interleukin cũng tỏ ra chưa hữu hiệu lắm, bên cạnh đó các phản ứng phụ của liệu pháp này cũng đáng kể. Những năm gần đây các nghiên cứu tìm liệu pháp sinh học tác dụng có chọn lọc vào các oncogen, vào sản phẩm của oncogen là các protein gây chuyển dạng hoặc vào thụ thể của các protein đó. Các liệu pháp này có chung tên gọi là “liệu pháp nhắm vào đích” (targettherapy).

Một hướng điều trị mới khác cũng đang được nghiên cứu và ứng dụng là “phương pháp trị liệu bằng kháng thể đơn dòng”. Các nghiên cứu hiện đang còn ở pha I, một số pha II và một số thuốc đã được cấp phép lưu hành trên thị trường dược phẩm, cho thấy có cải thiện về mặt lâm sàng.

Tuy nhiên các biện pháp miễn dịch trên vẫn còn gặp phải các trở ngại sau:

  • Có sự lệ thuộc đáng kể giữa tổng khối tế bào ung thư và khả năng đáp ứng miễn dịch của cơ thể người bệnh.
  • Sự biểu hiện của các oncogen trong các tế bào của một khối u ở trong cơ thể không hoàn toàn giống nhau.
  • Một số tế bào ung thư  có khả năng tạo ra các yếu tố khoá, ức chế đáp ứng miễn dịch làm vô hiệu hoá các kháng thể.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Hỏi đáp có thể bạn quan tâm

Chăm sóc bệnh nhân ung thư sau hóa trị như thế nào?

Đương đầu với hành trình hóa trị ung thư không chỉ là sự khó khăn của người bệnh mà còn là thử thách với người thân. Làm thế nào để chăm sóc bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người bệnh vượt qua những mệt mỏi về sức khỏe lẫn trở ngại tinh thần?

  •  4 năm trước
  •  0 trả lời
  •  996 lượt xem
Video có thể bạn quan tâm
NỘI SOI TẦM SOÁT UNG THƯ TIÊU HÓA TẠI BVĐK TÂM ANH: KHÔNG ĐAU ĐỚN, BUỒN NÔN, KHÓ CHỊU, KẾT QUẢ CHÍNH XÁC - CÓ NGAY TRONG NGÀY. NỘI SOI TẦM SOÁT UNG THƯ TIÊU HÓA TẠI BVĐK TÂM ANH: KHÔNG ĐAU ĐỚN, BUỒN NÔN, KHÓ CHỊU, KẾT QUẢ CHÍNH XÁC - CÓ NGAY TRONG NGÀY. 05:08
NỘI SOI TẦM SOÁT UNG THƯ TIÊU HÓA TẠI BVĐK TÂM ANH: KHÔNG ĐAU ĐỚN, BUỒN NÔN, KHÓ CHỊU, KẾT QUẢ CHÍNH XÁC - CÓ NGAY TRONG NGÀY.
Với dàn máy nội soi hiện đại tại BVĐK Tâm Anh, bác sĩ có thể phát hiện các tổn thương rất nhỏ chỉ vài milimet, thu thập mẫu sinh thiết...
 5 năm trước
 2066 Lượt xem
GIẢM TỚI 50% TẦM SOÁT UNG THƯ - DUY NHẤT THÁNG 3 GIẢM TỚI 50% TẦM SOÁT UNG THƯ - DUY NHẤT THÁNG 3 01:17
GIẢM TỚI 50% TẦM SOÁT UNG THƯ - DUY NHẤT THÁNG 3
Phát hiện sớm ung thư & gần 50 bệnh lý42 danh mục khám toàn diện️
 5 năm trước
 940 Lượt xem
Tin liên quan
Ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng xảy ra khi tế bào không bình thường phát triển trong một hoặc cả hai buồng trứng của bạn. Buồng trứng là hai tuyến nhỏ, nằm ở hai bên tử cung.

Thuốc nhuộm tóc có gây ung thư không? Chuyên gia lên tiếng
Thuốc nhuộm tóc có gây ung thư không? Chuyên gia lên tiếng

Ngày càng nhiều phụ nữ, cũng như một số ít nam giới (nhưng số lượng tăng dần) sử dụng thuốc nhuộm tóc. Có lẽ bạn từng nghe những lời đồn thổi về việc thuốc nhuộm tóc gây ung thư? Không ít các nghiên cứu coi thuốc nhuộm tóc như một yếu tố rủi ro có thể dẫn tới nhiều loại bệnh ung thư. Bài viết dưới đây sẽ thảo luận về những điều mà nghiên cứu chỉ ra để chúng ta có thể yên tâm đưa ra quyết định.

Những Lưu Ý Khi Quan Hệ Tình Dục Ở Bệnh Nhân Bị Ung Thư
Những Lưu Ý Khi Quan Hệ Tình Dục Ở Bệnh Nhân Bị Ung Thư

Quan hệ tình dục là một nhu cầu sinh lý bình thường ở tất cả mọi người bao gồm cả những bệnh nhân ung thư. Vậy bệnh nhân ung thư thường có những vấn đề gì khi quan hệ tình dục, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây