Chẩn đoán viêm khớp cùng chậu - Bệnh viện Việt Đức
Viêm khớp cùng chậu là căn bệnh gặp ở rất nhiều người. Việc phát hiện và chữa trị kịp thời giúp bạn tránh được những biến chứng nguy hiểm của bệnh. Bài viết sau sẽ giúp các bạn hiểu và phát hiện bệnh sớm nhất.
Bác sĩ điều trị:
Các bác sĩ của bạn có thể dựa vào các triệu chứng:
- Như vị trí đau
- Tính chất các cơn đau
- Số lượng cơn đau
- Hướng lan
Các nghiệm pháp thăm khám thực thể:
- Nghiệm pháp giãn khung chậu
- Nghiệm pháp đẩy đùi
- Nghiệm pháp Faber
- Nghiệm pháp ép khung chậu
- Nghiệm pháp Gaenslen.
Từ các kết quả đó, bác sĩ đề ra các loại xét nghiệm cận lâm sàng cần phải thực hiện để chẩn đoán bệnh viêm khớp cùng chậu.
Chụp X-quang, CT-scan hoặc MRI:
Việc chụp sẽ cho ta thấy hình ảnh bất thường, các mức độ tổn thương khác nhau của xương chậu cũng như khớp cùng chậu từ đó góp phần củng cố chẩn đoán bệnh viêm khớp cùng chậu.
Ở giai đoạn muộn, khớp có thể dính hoàn toàn, thậm chí không thể phân biệt được khớp cùng chậu nữa.
Và cần lưu ý rằng, bệnh này có thể kết hợp với các bệnh khác của cột sống như chấn thương, thoái hóa cột sống, viêm xương khớp, đau thần kinh tọa hay bất kì các bất thường nào của đĩa đệm. Do đó, để chẩn đoán đúng cần đảm bảo rằng đã loại trừ được các bệnh khác kèm theo.
Phẫu thuật:
Phương pháp được sử dụng nhiều nhất để xác định bệnh viêm khớp cùng chậu có phải nguyên nhân gây ra các triệu chứng đau lưng của bạn hay không chính là phương pháp gây tê cục bộ.
Đầu tiên, bác sĩ phẫu thuật sẽ tiêm thuốc tê vào khớp cùng chậu dưới sự hướng dẫn của X-quang hoặc CT để xác định được vị trí chính xác của kim đưa vào.
Nếu sau khi tiêm, các cơn đau của bạn giảm xuống đáng kể, bác sĩ có thể kết luận viêm khớp cùng chậu là một trong số những nguyên nhân chính gây nên triệu chứng đau lưng cho bạn. Nếu các triệu chứng không thuyên giảm sau khi tiêm, thì ta cần phải làm thêm các xét nghiệm khác để có thể tìm được chính xác nguyên nhân.
Có hai phương pháp phẫu thuật:
- Phẫu thuật không xâm lấn
- Phẫu thuật xâm lấn tối thiểu (MIS).
Tùy vào tình trạng và điều kiện của từng bệnh nhân mà bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp thích hợp. Tuy nhiên, các phương pháp trên có thể không thích hợp được với hầu hết các bệnh nhân, do đó cần cân nhắc kĩ trước khi thực hiện các thủ thuật.
Thông tin trên không thay thế lời khuyên của bác sĩ. Các trường hợp có nguy cơ cao mắc bệnh là người già, người bị chấn thương, phụ nữ có thai, phụ nữ đang trong giai đoạn ở cữ hoặc đôi khi nó xuất hiện ở cả các bà mẹ có con hơn 6 tháng tuổi do bệnh có thể diễn biến cấp hoặc mạn tính…
Tuy nhiên, phụ nữ có thai không được khuyến khích chụp X-quang khung chậu vì có nguy cơ gây tổn thương cho thai nhi.
Nguồn: Bệnh viện Việt Đức.
Quá trình chẩn đoán viêm khớp dạng thấp (rheumatoid arthritis) thường mất nhiều thời gian. Ở giai đoạn đầu, các triệu chứng viêm khớp dạng thấp thường giống như triệu chứng của các bệnh khác như bệnh lupus hoặc các bệnh mô liên kết khác.
Viêm khớp vảy nến và viêm khớp dạng thấp đều là những bệnh lý do viêm và có nhiều triệu chứng giống nhau. Tuy nhiên, hai bệnh lý này cũng có những triệu chứng khác nhau. Nguyên nhân và cách điều trị cũng không giống nhau.
Viêm khớp bàn chân gây đau đớn và khó khăn khi đi lại cũng như vận động. Tình trạng này sẽ làm giảm chất lượng cuộc sống. Có nhiều loại viêm khớp có thể xảy ra ở bàn chân. Các phương pháp điều trị gồm có dùng thuốc, vật lý trị liệu và phẫu thuật.
Viêm quanh khớp vai thể đông cứng (adhesive capsulitis) hay đông cứng khớp vai (frozen shoulder) là một bệnh có đặc trưng là đau và cứng khớp vai. Các dấu hiệu và triệu chứng thường xuất hiện từ từ, nặng dần theo thời gian và sau đó biến mất, thường trong vòng 1 đến 3 năm.





