Các mức độ viêm túi mật cấp tính và biện pháp chẩn đoán
1. Phân loại các cấp độ viêm túi mật
Hiện nay, việc phân loại các cấp độ viêm túi mật cấp đang được áp dụng rộng rãi như sau:
- Viêm túi mật cấp độ nhẹ (độ 1): Túi mật bị viêm nhẹ, phản ứng viêm xuất hiện tại chỗ. Bệnh nhân tương đối khỏe, không có rối loạn chức năng các cơ quan;
- Viêm túi mật cấp trung bình (độ 2): Túi mật bị viêm, kèm theo một hoặc nhiều tiêu chuẩn bao gồm: Bạch cầu > 18 g/L, sờ thấy mass ở hạ sườn bên phải, thời gian mắc bệnh trên 72 giờ, có tổn thương viêm tại chỗ, như viêm phúc mạc mật, áp xe túi mật, áp xe gan, hoại tử túi mật.
- Viêm túi mật cấp nặng (độ 3): Túi mật bị viêm, kèm theo rối loạn chức năng tại một hoặc nhiều cơ quan, bao gồm chức năng tim mạch (tụt huyết áp), chức năng thần kinh, hô hấp, chức năng thận, gan, rối loạn huyết học, (tiểu cầu giảm dưới 100.000/mL).
2. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm túi mật cấp
2.1. Triệu chứng lâm sàng
- Đau bụng: Triệu chứng chủ yếu của viêm túi mật cấp không biến chứng là cơn đau quặn tại gan, gây ra bởi sự tắc nghẽn của sỏi ở cổ túi mật. Có 72 - 93% tỷ lệ bệnh nhân có dấu hiệu đau hạ sườn phải và đau vùng thượng vị kết hợp, sau đó là buồn nôn và nôn.
- Sốt: Số trường hợp viêm túi mật cấp bị sốt chiếm không cao, bệnh nhân sốt > 38oC chỉ gặp trong khoảng 30% số ca mắc. Một nửa số bệnh nhân có phản ứng thành bụng, ít khi sờ thấy mass ở hạ sườn phải. Phản ứng phúc mạc và co cứng thành bụng là tương đối hiếm gặp.
- Dấu hiệu Murphy: Để xác định dấu hiệu Murphy, bác sĩ đặt các đầu ngón tay của bàn tay phải lên vùng dưới của bờ sườn phải của bệnh nhân và yêu cầu họ thở ra, lúc này bác sĩ ấn tay vào sâu thêm, khi bệnh nhân thở vào thì bàn tay giữ nguyên. Sau 3 - 4 lần như thế, nếu đang ở thì thở vào, bệnh nhân đột ngột ngừng thở vì đau là dấu hiệu Murphy dương tính, điều này xảy ra do chạm vào túi mật bị viêm của bệnh nhân. Dấu hiệu Murphy đã được sử dụng rộng rãi như là một yếu tố giúp chẩn đoán viêm túi mật cấp tính.
Dấu hiệu Murphy có một nhược điểm là việc chẩn đoán xác định viêm túi mật cấp có thể được kết luận ngay khi dấu hiệu Murphy (+), nhưng với trường hợp Murphy (-), không có nghĩa là bệnh nhân không có viêm túi mật cấp.
2.2. Xét nghiệm
Không có xét nghiệm máu đặc trưng trong chẩn đoán viêm túi mật cấp. Tuy nhiên, những biểu hiện của tình trạng nhiễm khuẩn là gợi ý để bổ sung chẩn đoán. Theo đó, bạch cầu và CRP tăng, đồng thời tăng nhẹ lượng enzyme huyết thanh trong hệ thống gan mật tụy và bilirubin.
Trong đó, mức độ bilirubin có thể tăng lên 4 mg/dL (tương ứng 68 μmol/dL) với trường hợp không có biến chứng. Trường hợp siêu âm cho thấy hình ảnh viêm túi mật cấp và CRP tăng > 3 mg/dL, chẩn đoán viêm túi mật cấp có khả năng đạt độ nhạy 97%, độ đặc hiệu 76% và giá trị dự báo dương tính lên đến 95%.
2.3. Siêu âm
Siêu âm là phương pháp được ưu tiên sử dụng đầu tiên cho những trường hợp nghi ngờ viêm túi mật cấp.
Chẩn đoán viêm túi mật cấp do hình thành sỏi mật bằng hình ảnh siêu âm được xác định khi bác sĩ quan sát thấy: thành túi mật dày (từ 5mm hoặc hơn), dịch bao quanh túi mật, hoặc bệnh nhân bị đau khi ấn đầu dò trực tiếp vào vị trí túi mật (có dấu hiệu Murphy trên siêu âm). Ngoài ra, túi mật to, có xuất hiện sỏi túi mật, có độ phản âm và hình ảnh khí.
Tuy nhiên, do sự khác biệt giữa các báo cáo khác nhau về độ nhạy và độ đặc hiệu, kết quả chẩn đoán viêm túi mật cấp nên được đưa ra sau khi đã tổng hợp một cách toàn diện từ những kết quả riêng lẻ.
Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán hình ảnh cho phép bác sĩ nhận biết hình ảnh sỏi mật. Tuy nhiên, việc sử dụng kỹ thuật nào phải được xem xét cẩn thận tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Túi thừa là những túi nhỏ, phồng lên hình thành trong lớp niêm mạc của đường tiêu hóa mà chủ yếu là ở phần dưới của đại tràng (ruột già). Sự hình thành túi thừa trong đường tiêu hóa là điều rất phổ biến, đặc biệt là sau 40 tuổi và hiếm khi gây ra vấn đề.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.
Phương pháp điều trị theo từng giai đoạn ung thư dạ dày như thế nào? Phác đồ điều trị ung thư dạ dày phụ thuộc rất nhiều vào vị trí mà ung thư bắt đầu hình thành trong dạ dày và phạm vi lan rộng của tế bào ung thư.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.
Ung thư dạ dày giai đoạn 4 sống được bao lâu?. Càng tiến triển sang đến các giai đoạn sau thì ung thư lại càng khó điều trị. Do đó, việc điều trị ung thư dạ dày giai đoạn 4 sẽ nan giải hơn rất nhiều so với giai đoạn đầu.





