Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập269
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm139
  • Khách viếng thăm129
  • Hôm nay37,956
  • Tháng hiện tại1,640,566
  • Tổng lượt truy cập39,068,188

Áp xe gan - bệnh viện 103

1. Phần chung

Áp xe gan là do tổ chức tế bào gan bị phá hủy tạo thành ổ mủ ở gan.

Từ năm 200 sau công nguyên Golien đã mô tả áp xe gan. Đến năm 1631 Bonfius người Hà Lan đầu tiên nói về áp xe gan vùng Viễn Đông. Từ đấy ở Ấn Độ hình thành một trung tâm nghiên cứu áp xe gan, cũng từ đấy nhiều công trình nghiên cứu cho thấy áp xe gan là mmột trong những nguyên nhân gây nhiều tử vong.

Theo Eppinger: Trong 7326 trường hợp mổ tử thi thì  1,47% chết do áp xe gan.

Kobler mổ tử thi 1724 thấy 0,46%% có áp xe gan. Các thông báo nói trên càng làm cho các nhà y học tích cực tìm kiếm nguyên nhân để điều trị có  hiêụ quả áp xe gan.

Năm 1875 Kensel và Kiener thống kê áp xe gan vùng nhiệt đới. Cũng năm đó (1875) Losh tìm thấy amip trong phân người bị bệnh lị và 8 năm sau (1885) Koch tìm được amip trong mao mạch gan và thành ổ mủ ở gan. Từ đấy mở ra một hướng mới trong nghiên cứu áp xe gan do amip.

Ngày nay nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật việc chẩn đoán điều trị áp xe gan trở nên dễ dàng và có hiệu quả hơn. Tuy vậy chọn phương pháp điều trị phải trên cơ sở nguyên nhân gây bệnh. Người ta chia ra 2 loại áp xe gan:

  • Áp xe gan do vi khuẩn.
  • Áp xe gan do amíp.

Chúng ta sẽ xem xét từng loại áp xe gan nói trên.

2. Áp xe gan do vi khuẩn

2.1. Tác nhân gây bệnh:

Do vi khuẩn xâm nhập vào gan, làm viêm và hoại tử tế bào gan, tạo nên những ổ mủ trong gan. Vi khuẩn thường thấy là Staphilocoque, Streptocoque, trực khuẩn đường ruột Salmonella có lúc thấy cả vi khuẩn kỵ khí. Có tác giả thấy cả nấm tóc (Leptothix).

2.2. Vi khuẩn vào gan bằng nhiều đường khác nhau:

2.2.1.  Theo đường mật:

Đây là biến chứng của các bệnh lý đường mật như sỏi mật, giun chui ống mật, các bệnh gây chít hẹp và ứ mật lâu ngày.

2.2.2.  Theo đường tĩnh mạch gánh:

Tất cả các viêm nhiễm trong ổ bụng nhất là ổ áp xe, vi khuẩn có thể theo tĩnh mạch gánh có thể khu trú tại gan.

2.2.3. Vi khuẩn vàogan theo đường bạch mạch, động mạch gan:

Vì thể bất cứ một nhiễm khuẩn nào đó trong cơ thể đều có thể gây áp xe gan: Viêm hạch, nhọt, hậu bối, các chấn thương đặc biệt là nhiễm khuẩn huyết nói chung. Ở các bệnh nhân này có thể thấy mủ  rải rác như ở phổi, não, cơ, thận và các ổ mủ trong gan (hay gặp), nhất là nhiễm khuẩn huyết.

2.3.  Đặc điểm của áp xe gan vi khuẩn:

Là nhiều ổ mủ có kích thước khác nhau, nằm rải rác trong toàn bộ gan. Cũng có lúc chỉ  thấy ở một thùy nào đó nhưng vẫn là nhiều ổ to nhỏ tập chung thành một khối.

2.4. Chuẩn đoán áp xe gan do vi khuẩn:

Dựa vào bảng lâm sàng của bệnh chính. Các triệu chứng áp xe gan như đau hạ sườn phải gan to, ấn kẽ sườn đau, Xquang hoặc siêu âm có ổ mủ ở gan..v..v.v..là thể hiện năng thêm của bệnh chính ban đầu.

2.5. Điều trị – nguyên tắc:

Dùng kháng sinh mạnh cộng với can thiệp ngoại khoa thích hợp theo tính chất của bệnh gây nên áp xe gan.

3.  Áp xe gan amip

3.1. Năm 1883 áp xe gan amíp lỵ trực khuẩn gây nên được khẳng định. Các công trình nghiên cứu tiếp theo cho thấy amíp lỵ đã xuyên qua thành ruột, theo các mao tĩnh mạch rồi theo tĩnh mạch gánh vào gan, phá hủy tế bào gan tạo nên những ổ mủ lớn. Đặc biệt của áp xe gan này là:

3.1.1. Chỉ có tác nhân là con amíp, không có vi khuẩn trong mủ.

Đây là điều được khẳng định vì vậy một số tác giả còn gọi áp xe gan amíp là (( áp xe gan vô khuẩn)).

3.1.2.  Áp xe gan do amíp là loại ổ lớn:

  • Thường chỉ một ổ mủ, có thể thấy 2-3 ổ mủ nhưng ít.
  • Hay gặp ở thùy phải vì tĩnh mạch gánh bên phải to thẳng và ngắn hơn.

3.2. Triệu chứng áp xe gan do amíp:

Bằng lâm sàng áp xe gan do amíp được mô tả từ lâu đó là:

  • Sốt cao rét run
  • Đau tức vùng gan
  • Gan to đau
  • Ấn kẽ sườn đau
  • Hình ảnh Xquang thấy cơ hoành phải cao, ít di động, góc sườn hoành phải mờ cùng với xét nghiệm máu: Bạch cầu tăng cao và tốc độ máu lắng tăng..v..v..với triệu chứng trên chúng ta chẩn đoán không khó khăn  lắm (học viên tự đọc thêm).

Ở đây lưu ý là: Có bệnh nhân ổ áp xe rất lớn nhưng lâm sàng lại nghèo nàn: sốt nhẹ, chỉ hơi tức khó chịu vùng hạ sườn phải, thậm chí chỉ sờ thấy gan mấp mé bờ sườn nhưng nhờ có siêu âm nên phát hiện được ổ mủ lớn.

3.3. Tiến triển:

Tùy theo từng giai đoạn

  • Giai đoạn viêm
  • Giai đoạn làm mủ
  • Nếu không điều trị kịp thời ổ mủ sẽ vỡ
  • Vào ổ bụng
  • Lên màng phổi hoặc phổi phải
  • Vỡ thông với đường ruột (đại tràng)
  • Vỡ ra ngoài
  • Rất hiếm khi vỡ lên màng tim

3.4. Chẩn đoán:

3.4.1.  Chẩn đoán xác định:

Ngoài triệu chứng lâm sàng, chúng ta có thể áp dụng những phương pháp như:

  • Soi Xquang
  • Chụp gan xa
  • Chụp động mạch gan, tĩnh mạch rốn
  • Soi ổ bụng
  • Chụp xạ đồ gan (Au-198)
  • Chọc dò
  • Chụp cắt lớp
  • Siêu âm gan.

Ngày nay nhờ có siêu âm nên các phương pháp khác ít được sử dụng. Tuy vậy siêu âm không thể thấy hoàn toàn.

3.5. Điều trị

Ngày nay 3 biện pháp phối hợp để điều trị áp xe gan do amíp đó là:

  • Thuốc đặc trị
  • Loại bỏ ổ mủ khi nó đã hình thành
  • Kháng sinh kết hợp

Nói như vậy không có nghĩa là từ nay phương pháp chọc hút mủ dưới hướng dẫn của siêu âm đã hoàn toàn thay thể cho phương pháp dẫn lưu mủ. Bởi vì nhược điểm của chọc hút mủ là không triệt để vì vậy với ổ mủ lớn chọc tới 2-3 lần mà không  khỏi buộc phải áp dụng dẫn lưu mới có kết quả.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây