Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập244
  • Máy chủ tìm kiếm66
  • Khách viếng thăm178
  • Hôm nay56,392
  • Tháng hiện tại2,145,355
  • Tổng lượt truy cập36,910,583

Viêm tuyến nước bọt mang tai mạn tính - bệnh viện 103

Viêm tuyến nước bọt mang tai mạn tính liên quan chặt chẽ đến sự suy giảm chức năng tiết nước bọt. Những nguyên nhân gây viêm, rối loạn chức năng tiết nước bọt lâu dài không phải lúc nào cũng xác định được. Trong nhiều trường hợp viêm tuyến kết hợp với một số bệnh như: Huyết áp cao, viêm đa khớp, viêm dạ dầy, viêm túi mật, đại tràng, rối loạn thần kinh thực vật, trong những trường hợp như vậy thường có giảm tiết nước bọt.

Tuỳ theo bệnh lý phát triển đầu tiên ở tổ chức nào trong tuyến (ở nhu mô tuyến hay tổ chức kẽ) mà chia ra viêm nhu mô tuyến hoặc viêm tổ chức kẽ tuyến nước bọt mạn tính.

Viêm nhu mô tuyến nước bọt mang tai mạn tính

Nhiều khi sự khởi phát của quá trình viêm nhu mô tuyến mang tai mạn tính khá âm thầm mà bệnh nhân không thấy được. Bệnh nhân chỉ chú ý khi có những dấu hiệu của một đợt bùng phát hoặc sự cảm giác có mủ chảy vào trong miệng, nhất là vào các buổi sáng khi mới ngủ dậy.

Lâm sàng

Ở giai đoạn đầu của bệnh không thấy mặt lệch do còn sưng ít, da trên nền tuyến gần như bình thường. Khi viêm kéo dài, khối lượng nhu mô tuyến tăng sinh nhiều sẽ thấy tuyến nổi gồ hẳn trên mặt da như một con trai nhỏ. Bệnh nhân cảm thấy vướng tức khó chịu, sờ nắn thấy tuyến sưng to gồ ghề thành múi, đau khi khám. Xoa vùng tuyến và vuốt dọc theo tuyến thấy nước bọt tiết ra có những chất nhầy và những gợn trắng. Ở giai đoạn bùng phát thấy tuyến bị đau khi ăn, tăng cảm giác và phản ứng phù nề tại chỗ, màu sắc da hơi đỏ hoặc sạm. Bệnh nhân có thể sốt, đau tăng, nước bọt đặc quánh có lẫn mủ. Có một số trường hợp viêm tuyến mạn tính đợt bùng phát cũng diễn biến như một viêm tuyến cấp có mủ hoặc viêm hoại tử tuyến. Sau khi điều trị hết đợt bùng phát cấp tính, tuyến không có khả năng hồi phục bình thường cả về khối lượng và mật độ.

Hình ảnh chụp cản quang tuyến

Cho phép chẩn đoán viêm nhu mô tuyến mạn tính. Trong giai đoạn đầu cấu trúc nhu mô tuyến không thay đổi gì đáng kể, ở nhu mô có một số đọng thuốc nhỏ, tròn đường kính khoảng 1 – 2mm, ống tuyến có hình ảnh và kích thước bình thường.

Trong giai đoạn viêm bùng phát nhu mô tuyến mạn tính, trong nước bọt có mảnh niêm mạc và xác bạch cầu, ống tuyến ngấm nước không đều to nhỏ khác nhau hoặc ngắt quãng.

Chẩn đoán phân biệt

Cần loại trừ các khối u (cả lành tính và ác tính) tuyến nước bọt, sỏi tuyến nước bọt (ít gặp). Nang nước bọt trong tuyến, bệnh Miculic (hay hội chứng Miculic) với hình ảnh phì đại tuyến có hệ thống.

Điều trị

Điều trị viêm nhu mô tuyến tương đối khó khăn vì nhu mô tuyến qua mọi quá trình bị phá huỷ lâu dài thường khó hồi phục.

Trong giai đoạn bùng phát của bệnh cần tiến hành điều trị tổng hợp nhằm can thiệp vào quá trình viêm cấp tính ở tổ chức tuyến: Liệu pháp kháng sinh, chống viêm toàn thân. Tại tuyến tiến hành bơm rửa tuyến trước khi bơm kháng sinh hâm ấm. sau bơm rửa tiến hành xoa bóp thật nhẹ nhàng ngoài tuyến kết hợp với thức ăn kích thích tiết nước bọt và xúc miệng bằng dung dịch kiềm ấm.

Bơm Lipiodol 30% vào ống tuyến 5 lần cách ngày, mối lần khoảng 1,5 – 2ml. Lipiodol có tác dụng ngăn chặn các đợt bùng phát cấp tính và làm chậm quá trình xơ hoá tuyến.

Uống Kali iodua mỗi lần một thìa súp × 3 lần trong ngày sau bữa ăn. Một đợt Kali iodua kéo dài 1 – 2 tháng, thuốc này đào thải qua tuyến nước bọt và có tác dụng tốt với viêm tuyến mạn tính.

Các biện pháp lý liệu cũng được áp dụng có hiệu quả: Hồng ngoại và sóng ngắn hoặc điện phân trực tiếp Kali iodua vào tuyến. Laser khí Helium Neon cũng có tác dụng chống viêm kết hợp.

Khi điều trị bảo tồn không hiệu quả, tuyến ngày càng to và gây cảm giác đau tức cho người bệnh kéo dài thì có chỉ định phẫu thuật cắt tuyến nước bọt mang tai chọn lọc bảo tồn dây thần kinh VII theo phương pháp Redone. Gần đây một số tác giả đã đề nghị một phương pháp phẫu thuật đơn giản là thắt và cắt ống Stenon để làm mất chức năng và xơ hoá đầu tuyến mang tai mà không phải cắt tuyến tránh nguy cơ gây tổn thương thần kinh VII. Phương pháp này chỉ được phép áp dụng cho người già trên 60 tuổi.

Viêm tổ chức kẽ tuyến mang tai mạn tính.

Viêm tổ chức kẽ tuyến mang tai mạn tính chiếm tỷ lệ 10% các loại viêm mạn tuyến mang tai.

Hình ảnh giải phẫu bệnh.

Là hình ảnh tăng sinh quá mức của tổ chức liên kết ở kẽ giữa các tiểu thuỳ và phân thuỳ tuyến, dần dần chèn ép xâm lấn làm thay đổi cấu trúc nhu mô tuyến, sau một quá trình phát triển lâu dài hệ thống ống tuyến nước bọt các cấp đều bị xâm lấn, chèn ép và teo nhỏ lại.

Lâm sàng

Quá trình viêm bắt đầu bằng tăng cảm giác đau tức của tuyến mang tai hai bên. Sưng nề tuyến tăng chậm và kéo dài nhiều năm, vào thời gian rét trong năm thường thấy tuyến sưng to hơn.

Giai đoạn đầu thấy sưng nề không thường xuyên, lúc to, lúc nhỏ, kèm theo đau, mật độ tuyến mềm, da phủ tuyến không thay đổi vẫn có thể véo da nâng lên, nước bọt trong, số lượng tiết có giảm đi một ít. Khi có đợt bùng phát, khoảng từ 2 – 3 ngày, thấy tuyến mang tai sưng nề tăng lên, đau và khô miệng, toàn thân không có gì thay đổi. Nếu được chườm nóng tại vùng tuyến kết hợp với dùng thuốc, sưng nề giảm dần, giảm và ngừng đau, nước bọt tiết quánh nhầy hơn. Sau đợt viêm cấp tuyến nước bọt có nhỏ lại nhưng không bao giờ về mức độ ban đầu của nó. Trong giai đoạn ổn định nước bọt tiết trong nhưng số lượng ngày càng giảm dần.

Trên film chụp cản quang tuyến ở giai đoạn đầu của bệnh thấy tất cả các ống tuyến đều hẹp nhỏ hơn bình thường. Hình nhu mô tuyến ở tất cả các giai đoạn đều rõ và đều. Ở giai đoạn cuối, các ống tuyến rất hẹp, có xen kẽ những đoạn phình to ra, bóng nhu mô tuyến không đều có chỗ mất do ống bị chèn tắc thuốc không vào nhu mô khi bơm hoặc nhu mô đã bị tổ chức xơ xâm lẫn chèn ép teo dần lại.

Điều tri viêm tổ chức kẽ tuyến mang tai.

– Vào giai đoạn bùng phát: Đắp miếng gạc ấm có dầu nong não vào buồng tuyến thấy có kết quả tốt. Bơm nong ống tuyến bừng Novocaine 0,5%, hoặc dung dịch sát trùng khác sau đó bơm kháng sinh có pha các loại Corticoide (thường dùng Depersolon: 1/3 – 1/2ml).

– Trong thời kỳ ổn định: Dùng liều cao Vitamin C kết hợp từng đợt Corticoide 10 – 12 ngày. Cần kiểm tra số lượng và chất lượng tiết nước bọt.

– Nếu điều trị bảo tồn không có kết quả, có chỉ định phẫu thuật cắt tuyến mang tai bảo tồn dây thần kinh VII theo Rédone.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây