Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập160
  • Máy chủ tìm kiếm68
  • Khách viếng thăm92
  • Hôm nay2,968
  • Tháng hiện tại1,880,118
  • Tổng lượt truy cập39,307,740

Viêm tuỵ cấp và mãn tính- Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Viêm tuyến tuỵ là một bệnh lý rất thường gặp. Tuyến tuỵ tuy nhỏ so với trọng lượng cơ thể nhưng lại đóng vai trò rất quan trọng trong  việc tiêu hoá thức ăn và chuyển hoá chất đường glucose.

Viêm tuỵ gây ra những ảnh hưỏng lớn đến sinh hoạt hàng ngày và chức năng chuyển hoá, tiêu hoá của cơ thể

I. Viêm tuỵ cấp

1. Nguyên nhân 

Một số bệnh nhân có thể bị một hoặc nhiều đợt viêm tuỵ cấp sau đó phục hồi hoàn toàn, nhưng đôi khi viêm tuỵ cấp có thể trở nặng đe doạ tính mạng và gây nhiều biến chứng.

Trong số  hàng trăm ngàn trường hợp xảy ra mỗi năm ở Mỹ khoảng 20 % là những trường hợp nặng.

Viêm tuỵ cấp thường xảy ra ở đàn ông nhiều hơn phụ nữ. Viêm tuỵ cấp thường do sỏi mật, hoặc uống quá nhiều rượu nhưng đấy không phải là những nguyên nhân duy nhất. 

2. Triệu chứng

  • Viêm tuỵ cấp thường khởi đầu bằng đau ở vùng thượng vị, có thể bớt sau vài ngày. Đau bụng nhiều và liên tục, hoặc lan ra sau lưng và những vị trí khác. Đau có thể xảy ra đột ngột và dữ dội, hoặc đau nhẹ lúc khởi đầu sau đó tăng dần sau khi ăn.
  • Một số bệnh nhân viêm tuỵ cấp cảm thấy cơ thể rất mệt mỏi.
  • Các triệu chứng khác bao gồm: bụng sưng và đau tức; buồn nôn; nôn; sốt; mạch nhanh.
  • Trong các trường hợp nặng, có thể bị mất nước và tụt huyết áp . Suy tim, suy hô hấp và suy thận có khả năng xảy ra. Nếu có xuất huyết ở tuỵ, sốc, sẽ dẫn đến nguy cơ tử vong cao.

3. Chẩn đoán 

Ngoài việc hỏi tiền sử bệnh và thăm khám lâm sàng, bác sĩ còn chỉ định xét nghiệm máu để chẩn đoán viêm tuỵ cấp.

Trong các đợt viêm cấp, trị số amylase và lipase trong máu tăng ít nhất gấp 3 lần so với bình thường. Amylase và lipase là các men tiêu hoá hình thành trong tuyến tuỵ.

Các thay đổi về lượng glucose, calcium, magnesium, sodium, potassium, và bicarbonate trong máu có thể xảy ra. Sau khi có cải thiện ở tuyến tuỵ, các trị số này thường trở về bình thường.

Bác sĩ có thể chỉ định làm siêu âm bụng để tìm sỏi mật và chụp  cắt lớp CAT scan (computerized axial tomography scan) để đánh giá tình trạng viêm và hoại tử ở tuyến tuỵ. CAT scan còn giúp phát hiện nang giả tuỵ.

4. Điều trị 

  • Nang giả tuỵ khá lớn có thể ảnh hưởng đến sự phục hồi của tuyến tuỵ. Bác sĩ có thể chọc dò để hút dịch hoặc phẫu thuật cắt nang. Trừ khi ống tuỵ hoặc ống mật chủ bị tắc do sỏi, đợt viêm tuỵ cấp thường chỉ kéo dài vài ngày. Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân cần được nuôi bằng đường tĩnh mạch từ 3 đến 6 tuần cho đến khi tuyến tuỵ bình phục dần. 
  • Trước khi xuất viện, bệnh nhân sẽ được khuyên bỏ rượu và không nên ăn những bữa ăn thịnh soạn. Khi các dấu hiệu viêm tuỵ cấp đã hết, bác sĩ sẽ cố gắng tìm nguyên nhân chính xác của đợt viêm tuỵ lần này để đề phòng những đợt kế tiếp.

5. Biến chứng

  • Viêm tuỵ cấp có thể gây nên những biến chứng về hô hấp. Nhiều bệnh nhân bị thiếu oxy máu, do đó mô và các tế bào cũng sẽ thiếu oxy. Điều trị thiếu oxy máu bằng cách cho thở oxy qua mặt nạ. Dù đã được cung cấp đủ lượng oxygen, một số ệịnh nhân vẫn bị suy hô hấp và cần được thở máy.
  • Nếu nôn ói nhiều, bệnh nhân cần được đặt ống thông dạ dày. Những trường hợp nhẹ, bệnh nhân phải kiêng ăn trong 3-4 ngày và sẽ được truyền dịch và tiêm giảm đau qua đường tĩnh mạch.
  • Nếu nhiễm trùng, bác sĩ sẽ sử dụng thêm kháng sinh. Phẫu thuật là cần thiết nếu có nhiễm trùng nặng. Phẫu thuật giúp phát hiện chỗ xuất huyết, chẩn đoán loại trừ với những nguyên nhân khác có triệu chứng giống viêm tuỵ cấp, hoặc để cắt lọc mô tuỵ bị hoại tử nặng.
  • Viêm tuỵ cấp đôi khi gây biến chứng suy thận cấp. Khi suy thận cấp, cần chạy thận nhân tạo để lọc các chất cặn bã trong máu.. 

II. Viêm tuỵ mãn

1. Nguyên nhân 

Các nguyên nhân chính của viêm tuỵ mãn là:

  • Nghiện rượu
  • Tắc nghẽn hoặc hẹp ống tuỵ do chấn thương hoặc do hình thành nang giả tuỵ 
  • Nguyên nhân di truyền không xác định (vô căn)

Tổn thương do nghiện rượu có thể không biểu hiện trong nhiều năm, và sau đó xuất hiện đôt ngột bằng một đợt viêm tuỵ cấp. Nghiện rượu là nguyên nhân viêm tuỵ mãn ở 70% người trưởng thành. Thể viêm tuỵ này thường  ở nam nhiều hơn nữ và thường xảy ra ở lứa tuổi  30 đến 40.

Viêm tuỵ di truyền thường khởi phát ở trẻ em nhưng có thể không được phát hiện trong thời gian nhiều năm. Viêm tuỵ di truyền thường có những đợt tái phát . Mỗi đợt kéo dài từ 2 ngày đến 2 tuần.

Yếu tố chẩn đoán viêm tuỵ di truyền là có hai hoặc nhiều thành viên cùng một thế hệ trong gia đình bị viêm tuỵ. 

Các nguyên nhân khác của viêm tuỵ mãn:

  • Tình trạng di truyền như trường hợp tuỵ chia đôi ( pancreas divisum)
  • Xơ nang phổi (cystic fibrosis)
  • Tăng calcium trong máu (hypercalcemia)
  • Tăng mỡ máu (hyperlipidemia hoặc hypertriglyceridemia)
  • Một số thuốc
  • Một số bệnh tự miễn

2. Triệu chứng 

  • Đa số bệnh nhân viêm tuỵ mãn có đau bụng, mặc dầu một số không có triệu chứng đau. Đau nặng hơn sau khi ăn uống, lan ra sau lưng hoặc đau liên tục khiến bệnh nhân không thể sinh hoạt bình thường.
  • Ở một số trường hợp, đau giảm dần theo diễn tiến của bệnh, có thể do tuỵ không còn sản xuất được men tiêu hoá nữa.
  • Các triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn ói, sụt cân và tiêu phân mỡ.
  • Bệnh nhân viêm tuỵ mãn thường sụt cân, ngay cả khi  ăn vẫn ngon miệng và chế độ ăn vẫn bình thường.

3. Chẩn đoán 

Chẩn đoán có thể khó, nhưng các kỹ thuật mới sẽ hỗ trợ. Đó là các xét nghiệm tìm hiểu về chức năng tuỵ. Dùng kỹ thuật siêu âm, nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng (ERCP), và CAT scan, bác sĩ có thể thấy được những dấu hiệu của viêm tuỵ mãn.

Các dấu hiệu đó là vôi hoá tuỵ, mô tuyến tuỵ xơ cứng do kết tủa các muối calcium không hoà tan. Khi bệnh tiến triển xa, đái tháo đường và kém hấp thu sẽ xảy ra, lúc đó bác sĩ sẽ xét nghiệm máu, nước tiểu, phân để chẩn đoán viêm tuỵ mãn và theo dõi diễn biến của nó.

4. Điều trị 

  • Giảm đau là bước đầu tiên trong điều trị viêm tuỵ mãn. Bước kế tiếp là thiết lập một chế độ ăn giàu đường bột và ít chất béo.
  • Có thể chỉ định dùng men tuỵ nếu tuỵ không còn đáp ứng đủ. Men cần uống theo mỗi bữa ăn để giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn và phục hồi lại cân nặng. Đôi khi cần dùng insulin và một số thuốc khác đề kiểm soát đường huyết.
  • Một số trường hợp cần điều trị phẫu thuật để giảm đau. Phẫu thuật được dùng để dẫn lưu ống tuỵ dãn to do tắc nghẽn hoặc cắt bỏ một phẩn tuỵ bị hoại tử.
  • Đối với những trường hợp cơn xảy ra thưa và nhẹ hơn, bịnh nhân cần bỏ rượu, tuân thủ chặt chẽ chế độ ăn, và uống thuốc đầy đủ.

III. Viêm tuỵ ở trẻ em

Viêm tuỵ mãn ít khi xảy ra ở trẻ em. Chấn thương tuỵ và viêm tuỵ di truyền là hai nguyên nhân chính.

Trẻ bị xơ nang, một bịnh lý phổi  tiến triển từ từ, gây tàn phế và không thể chữa trị được, có thể đồng thời bị viêm tuỵ. Trong đa số trường hợp viêm tuỵ ở trẻ em thường không tìm thấy nguyên nhân..

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây