Ứng dụng công nghệ di truyền học phân tử trong chẩn đoán bệnh lý huyết khối - tắc mạch - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Bệnh viện đại học y Hà nội
16:08 +07 Thứ sáu, 04/06/2021
Gen MTHFR
Sinh lý bệnh:
- Hiện tại đã tìm được 64 alen của gen MTHFR, chúng quy định tổng hợp nên enzyme methylenetetrahydrofolate reductase.
- Enzyme này chuyển đổi một dạng folate gọi là 5,10-methylenetetrahydrofolate thành một dạng folate khác là 5-methyltetrahydrofolate.
- Đây là dạng folate chính được tìm thấy trong máu và cần thiết cho quá trình chuyển đổi axit amin homocysteine thành một axit amin khác là methionine.
Bệnh lý huyết khối và mạch máu:
- Các nghiên cứu chỉ ra rằng những cá nhân có đột biến 677C> T của gen MTHFR có tỷ lệ gặp trong quần thể là 3,67%, trong đó có 28,7% gặp huyết khối tĩnh mạch, 12,9% đột quỵ và 0,07% bệnh mạch vành.
- Sự gia tăng nồng độ homocysteine gây ra bởi đa hình gen MTHFR cũng đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ đáng kể gây tăng mỡ máu, xơ vữa mạch máu, tăng huyết áp.
Homocystin niệu:
- Ít nhất 40 alen đột biến của gen MTHFR đã được xác định ở những người mắc bệnh homocystin niệu.
- Những người mắc bệnh này thường có các vấn đề về mắt, rối loạn đông máu, bất thường về xương và các vấn đề về trí tuệ.
Dị tật ống thần kinh:
- Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các biến thể trong gen MTHFR có liên quan đến việc tăng nguy cơ dị tật ống thần kinh, một nhóm các dị tật bẩm sinh xảy ra trong quá trình hình thành của não và tủy sống.
- Não phẳng (Anencephaly) là một trong những loại khiếm khuyết ống thần kinh phổ biến nhất.
- Bệnh nhân bị khiếm khuyết một số thành phần cấu trúc của não, bị thiếu hoặc hình thành xương sọ không hoàn chỉnh.
- Bệnh gai cột sống, một loại khiếm khuyết ống thần kinh phổ biến khác. K
Sảy thai liên tiếp và nhiễm độc thai nghén:
- Nhiều báo cáo khoa học cho thấy có mối liên hệ mật thiết giữa đa hình gene MTHFR tại vị trí 677 và 1298 với tình trạng sảy thai trên hai lần và nhiễm độc thai nghén ở phụ nữ.
- Một số khuyến cáo điều trị: Lovenox, Aspiril, L-methyloliate đã được đưa ra điều trị dự phòng cho những sản phụ sảy thai liên tiếp có đột biến C677T.
Gen PAI1
Sinh lý bệnh:
- Gen PAI1 mã hóa chất ức chế hoạt hóa Plasminogen nội mô. Khi có đột biến PAI1 nồng độ chất chức chế hoạt hóa Plasminogen tăng, hậu quả là Plasminogen không được hoạt hóa, làm suy giảm khả năng làm tan cục máu đông gây nên bệnh lý huyết khối.
Vai trò:
- Gen PAI1 có 3 alen : PAI 4G/4G, PAI1 4G/5G, PAI1 5G/5G Một phân tích tổng hợp của 9 nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim tăng 20% ở bệnh nhân có kiểu gen: PAI1 4G/4G.
- Những nghiên cứu trên một mẫu rất lớn bệnh nhân nhồi máu cơ tim tại Phần Lan, Nhật Bản đều cho thấy nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng đáng kể ở bệnh nhân mang Alen 4G của gen PAI1.
Gen ITGA2
Sinh lý bệnh:
- Gen ITGA2 mã hóa integrin alpha-2, một glycoprotein màng được gọi là GP Ia, có ở nhiều loại tế bào trong đó có nguyên bào sợi và tiểu cầu.
- Trên màng tiểu cầu, GP Ia tạo thành phức hợp với GP IIa trở thành thụ thể xuyên màng của collagen.
- GP IIa có vai trò kích hoạt tiểu cầu, tăng kết dính tiểu cầu thông qua collagen từ đó kiểm soát sự hình thành huyết khối.
Vai trò:
- ITGA2 C807 được ghi nhận có vai trò quan trọng nhất trong cơ chế hình thành huyết khối.
- Một nghiên cứu gộp 13 nghiên cứu trên 2438 bệnh nhân đột quỵ Trung Quốc đã cho thấy nguy cơ tăng đáng kể (12,4%-15,9%) đột quỵ ở bệnh nhân có đột biến ITGA2 C807.
Gen F2 (Factor II)
Sinh lý bệnh:
- Gen F2 mã hóa yế tố II – Prothrombin, một Glycoprotein phụ thuộc vitamin K được tổng hợp tại gan dưới dạng hoạt động.
- Hoạt động của các enzym thrombin đóng vai trò quan trọng trong cầm máu và huyết khối:
- Nó chuyển Fibrinogen thành Fibrin, kích thích kết tập tiểu cầu, kích hoạt yếu tố V, VIII, XIII.
- Thrombin cũng ức chế đông máu bằng cách kích hoạt Protein C.
Vai trò:
- Martineli phát hiện ra rằng đột biến 20210G-A trong gen prothrombin có liên quan đến huyết khối tĩnh mạch não 'vô căn', tỷ lệ gặp 5-30%.
Gen F5 (Factor V)
Sinh lý bệnh:
- Gen F5 mã hóa yếu tố V. Yếu tố V hoạt hóa đóng vai trò là một protein thiết yếu trong quá trình đông máu và hoạt động như một đồng yếu tố cùng Xa để chuyển prothrombin thành thrombin.
Vai trò:
- Trong một nghiên cứu dựa trên dân số với 9.253 người trưởng thành Đan Mạch đã phát hiện ra rằng dị hợp tử và đồng hợp tử của yếu tố V Leiden (đột biến R506Q của F5) có nguy cơ mắc bệnh huyết khối tĩnh mạch cao gấp 2,7 và 18 lần so với người không mang mầm bệnh.
- Trong một nghiên cứu trên 4.588 người da trắng khi có yếu tố V Leiden tỷ lệ đột quỵ tăng 33%.
- Ngoài ra, các nghiên cứu cũng đã chứng minh được yếu tố V Leiden làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý:Hội chứng Budd-Chiari, sảy thai liên tiếp.
Gen FGB (Afibrinogenemia)
Sinh lý bệnh:
- FGB quy định trình tự chuỗi Beta của Fibrinogen.
Vai trò:
- Các rối loạn di truyền của fibrinogen ảnh hưởng đến số lượng (afibrinogenemia,hypofibrinogenemia), chất lượng (dysfibrinogenemia) hoặc cả hai (hypodysfibrinogenemia).
- Afibrinogenemia được đặc trưng bởi sự vắng mặt hoàn toàn của fibrinogen biểu hiện bằng: chảy máu, sảy thai, rối loạn mỡ máu và nguy cơ huyết khối.
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Blog khác của bác sĩ
Tin liên quan





