Nồng độ Hemoglobin trong máu bao nhiêu là cao, thấp, bình thường?
1. Hemoglobin là gì?
Hemoglobin là phân tử protein nằm trong các tế bào hồng cầu, nó có chức năng mang oxy từ phổi đến các mô của cơ thể và đưa carbon dioxide từ các mô trở lại phổi.
Hemoglobin được tạo thành từ bốn phân tử protein (chuỗi globulin) kết nối với nhau. Phân tử hemoglobin ở người trưởng thành bình thường chứa 2 chuỗi alpha-globulin và hai chuỗi beta-globulin. Ở bào thai và trẻ sơ sinh, chuỗi beta không phổ biến và phân tử hemoglobin được tạo thành từ 2 chuỗi alpha và 2 chuỗi gamma. Khi trẻ lớn lên, các chuỗi gamma dần được thay thế bằng các chuỗi beta, tạo thành cấu trúc hemoglobin của người lớn.
Mỗi chuỗi globulin chứa một hợp chất porphyrin chứa sắt được gọi là heme. Trong nhân heme chứa một nguyên tử sắt rất quan trọng trong việc vận chuyển oxy và carbon dioxide trong máu của chúng ta. Sắt có trong hemoglobin cũng là nguyên nhân tạo ra màu đỏ của máu.
Hemoglobin cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì hình dạng của các tế bào hồng cầu. Ở hình dạng tự nhiên, các tế bào hồng cầu có hình tròn với các tâm hẹp giống như một chiếc bánh rán mà không có nhân ở giữa. Do đó, cấu trúc hemoglobin bất thường có thể phá vỡ hình dạng của các tế bào hồng cầu và cản trở chức năng và dòng chảy của chúng qua các mạch máu.
2. Nồng độ Hemoglobin trong máu được đo như thế nào?
Hemoglobin thường được đo như một phần của xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC). Có một số phương pháp để đo huyết sắc tố, hầu hết chúng hiện được thực hiện bằng các máy tự động được thiết kế để thực hiện các xét nghiệm khác nhau về máu.
Trong máy xét nghiệm, các tế bào hồng cầu được chia nhỏ để đưa hemoglobin thành dung dịch. Hemoglobin tự do tiếp xúc với hóa chất chứa xyanua liên kết chặt chẽ với phân tử hemoglobin để tạo thành cyanomethemoglobin. Bằng cách chiếu một ánh sáng ở bước sóng 540 nanomet qua dung dịch và đo lượng ánh sáng được hấp thụ, qua đó lượng hemoglobin có thể được xác định.
3. Nồng độ Hemoglobin trong máu bình thường
Nồng độ hemoglobin được biểu thị bằng lượng hemoglobin tính bằng gam (g) trên decilit (dL) của máu toàn phần.
Giá trị của nồng độ hemoglobin trong máu bình thường phụ thuộc vào tuổi và giới tính của người đó.
- Trẻ sơ sinh: 17 đến 22 g/dL;
- Một (1) tuần tuổi: 15 đến 20 g/dL;
- Một (1) tháng tuổi: 11 đến 15 g/dL;
- Trẻ em: 11 đến 13 g/dL;
- Nam giới trưởng thành: 14 đến 18 g/dL;
- Phụ nữ trưởng thành: 12 đến 16 g/dL;
- Nam giới sau tuổi trung niên: 12,4 đến 14,9 g/dL;
- Phụ nữ sau tuổi trung niên: 11,7 đến 13,8 g/dL.
Tất cả các giá trị này có thể khác nhau một chút giữa các phòng thí nghiệm. Phụ nữ mang thai nên tránh các tình trạng khiến cho nồng độ hemoglobin cao và thấp để tránh tăng nguy cơ thai chết lưu do lượng hemoglobin cao - trên mức bình thường và sinh non hoặc trẻ nhẹ cân do lượng hemoglobin thấp - dưới mức bình thường.
4. Nồng độ Hemoglobin trong máu thấp
Mức hemoglobin thấp được gọi là thiếu máu. Số lượng tế bào hồng cầu thấp hơn bình thường được gọi là thiếu máu và nồng độ hemoglobin cũng phản ánh tình trạng này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu máu.
Một số nguyên nhân phổ biến gây bệnh thiếu máu là:
- Mất máu: Do chấn thương, phẫu thuật, chảy máu, ung thư đại tràng hoặc loét dạ dày, . . .
- Thiếu dinh dưỡng: Sắt, vitamin B12, folate,. . .
- Các vấn đề về tủy xương như suy tủy, thay thế tủy xương do ung thư;
- Ức chế tổng hợp hồng cầu do thuốc hóa trị liệu gây ra;
- Suy thận;
- Cấu trúc hemoglobin bất thường: Thiếu máu hồng cầu hình liềm hoặc bệnh thalassemia.
5. Nồng độ Hemoglobin trong máu cao
Nồng độ hemoglobin cao hơn bình thường có thể thấy ở những người sống ở nơi cao và những người hút thuốc. Mất nước tạo ra kết quả đo huyết sắc tố cao giả và biến mất khi cân bằng chất lỏng được khôi phục.
Một số nguyên nhân khiến nồng độ hemoglobin cao như là:
- Bệnh phổi tiến triển như bệnh khí phế thũng;
- Một số khối u;
- Một rối loạn của tủy xương được gọi là bệnh đa hồng cầu rubra vera;
- Lạm dụng thuốc erythropoietin (Epogen) của các vận động viên cho mục đích tăng lượng oxy có sẵn cho cơ thể bằng cách tăng sản xuất hồng cầu.
6. Một số bệnh liên quan đến Hemoglobin
6.1 Bệnh hồng cầu hình liềm
Bệnh hồng cầu hình liềm là một tình trạng di truyền trong đó cấu tạo của hemoglobin bị khiếm khuyết. Tình trạng này có thể gây ra hemoglobin bất thường, tạo ra các tế bào hồng cầu có hình dạng bất thường (hình liềm). Các tế bào hồng cầu bất thường này không thể dễ dàng đi qua các mạch máu nhỏ dẫn đến không đủ oxy cho các mô của cơ thể.
Tế bào hình liềm cũng có tuổi thọ ngắn hơn các tế bào hồng cầu bình thường (10 đến 20 ngày so với chu kỳ bình thường là 120 ngày). Sự luân chuyển nhanh chóng này có thể dẫn đến không đủ thời gian để thay thế các tế bào hồng cầu và dẫn đến tình trạng thiếu máu.
Với bệnh thiếu thiếu máu hồng cầu hình liềm, một gen hemoglobin khiếm khuyết được di truyền từ cha và mẹ. Nếu chỉ có một gen được thừa hưởng từ bố hoặc mẹ, thì tình trạng bệnh nhẹ hơn và được gọi là tình trạng hồng cầu hình liềm.
Các triệu chứng của bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm khác nhau tùy thuộc vào từng độ nghiêm trọng. Bệnh nhân có đặc điểm hồng cầu hình liềm có thể gặp các triệu chứng nhẹ, nếu có. Đối với bệnh nhân mắc bệnh hồng cầu hình liềm, có thể xuất hiện các dấu hiệu điển hình như:
- Đau nhức toàn thân;
- Cảm giác đau đớn;
- Đau ngực;
- Đau xương;
- Khó thở;
- Loét da;
- Mệt mỏi;
- Đột quỵ;
- Mù lòa;
- Chậm lớn.
6.2 Thalassemia
Thalassemia là một nhóm bệnh di truyền với sự thiếu hụt số lượng hemoglobin. Việc cơ thể không tạo ra phân tử globulin sẽ dẫn đến cơ chế bù trừ để tạo ra các phân tử globulin khác kém tương thích hơn. Các loại thalassemia khác nhau được xác định dựa trên loại phân tử globulin bị thiếu. Mức độ nghiêm trọng của những tình trạng này phụ thuộc vào loại chuỗi globulin bị thiếu, số lượng globulin bị thiếu và mức độ nghiêm trọng của tình trạng này.
7. Xét nghiệm Hemoglobin A1c là gì?
Hemoglobin A1c hoặc hemoglobin glycosyl hóa là một dấu hiệu sơ bộ về việc kiểm soát lượng đường trong máu ở những người mắc bệnh đái tháo đường trong 3 tháng trước đó. Khi có nhiều glucose (đường huyết) lưu thông trong máu hàng ngày, thì càng nhiều glucose liên kết với hemoglobin tuần hoàn. Mức hemoglobin A1c bình thường nằm trong khoảng từ 4% đến 5,9%. Khi con số này đạt đến 6% hoặc lớn hơn, nó cho thấy khả năng kiểm soát bệnh tiểu đường kém hơn.
Hemoglobin A1c khoảng 6% tương quan với mức đường huyết trung bình là 135 mg / dL (miligam trên decilit) trong 3 tháng trước đó. Mỗi 1% tăng hemoglobin A1c trên 6% thể hiện lượng đường trong máu trung bình khoảng 35 mg / dL trên 135 mg / dL. Ví dụ, chỉ số hemoglobin A1c là 7% tương ứng với mức đường huyết trung bình là 170 mg / dL trong 3 tháng trước đó.
8. Làm thế nào để tăng nồng độ hemoglobin?
Có một số cách để tăng nồng độ hemoglobin. Nói chung, nồng độ hemoglobin thấp cần tăng lên là do ba trường hợp: giảm sản xuất hồng cầu (ví dụ, sản xuất hemoglobin của tủy xương bị thay đổi, thiếu sắt), tăng phá hủy hồng cầu (ví dụ, do bệnh gan) và do mất máu (ví dụ, chấn thương do súng bắn hoặc vết thương do dao đâm). Giải quyết những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng nồng độ hemoglobin thấp, bước đầu sẽ xác định phương pháp sử dụng để tăng nồng độ hemoglobin.
Các phương pháp tăng nồng độ hemoglobin rất đa dạng và việc sử dụng chúng phụ thuộc vào các vấn đề cơ bản. Một số cách để tăng hemoglobin như:
- Truyền hồng cầu;
- Nhận erythropoietin (một loại hormone được sử dụng để kích thích sản xuất hồng cầu ở những người bị giảm sản xuất hồng cầu hoặc tăng phá hủy hồng cầu);
- Bổ sung sắt;
- Tăng cường ăn các thực phẩm giàu chất sắt (trứng, rau bina, atiso, đậu, thịt nạc và hải sản) và thực phẩm giàu cofactors (như vitamin B6, axit folic, vitamin B12 và vitamin C) quan trọng để duy trì mức hemoglobin bình thường. Những thực phẩm này bao gồm cá, rau, quả hạch, ngũ cốc, đậu Hà Lan và trái cây họ cam quýt.
Các cá nhân không nên dùng chất bổ sung sắt hoặc các phương pháp điều trị khác khi có nồng độ hemoglobin thấp mà không thảo luận trước với bác sĩ về các phương pháp điều trị đó vì tác dụng phụ từ các phương pháp điều trị này hoặc lượng sắt dư thừa có thể gây ra các vấn đề khác. Ngoài ra, nên tránh xa các loại thuốc bổ sung sắt vì ngộ độc sắt ở trẻ nhỏ có thể gây tử vong.
Để biết được nồng độ hemoglobin cũng như cơ thể có bị thiếu máu hay không, mỗi người cần thăm khám sức khỏe định kỳ thường xuyên, việc làm này không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe mà còn tầm soát bệnh tật hiệu quả và an toàn.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 1045 lượt xem
Sắt là một khoáng chất cần thiết trong cơ thể con người. Sắt tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu – các tế bào máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Nồng độ sắt thấp hay thiếu sắt sẽ gây mệt mỏi và làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ sắt quá cao?
Nếu bị rụng tóc nhiều bất thường dù đã điều chỉnh chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt thì có thể nguyên nhân là do một vấn đề sức khỏe tiềm ẩn. Một trong những nguyên nhân đó là mức ferritin thấp.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.





