Nghiệm pháp dung nạp glucose huyết đường uống và chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ -bệnh viện 108
Đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes):
- Là tình trạng không dung nạp carbohydrate bắt đầu xuất hiện hoặc lần đầu được phát hiện trong quá trình có thai.
-
Tần suất của đái tháo đường thai kỳ là khoảng 4-10% tổng số thai phụ.
Biến chứng:
- Đối với mẹ, đái tháo đường thai kỳ có thể gây tăng huyết áp, tiền sản giật, sản giật, đái tháo đường type 2 sau khi sinh, hội chứng chuyển hóa.
- Đối với thai, đái tháo đường thai kỳ có thể gây chứng khổng lồ, thai chết lưu, đẻ non; khi đẻ ra trẻ sơ sinh có thể bị suy hô hấp, hạ glucose máu, vàng da; khi lớn lên trẻ có thể bị béo phì, đái tháo đường type 2 hoặc hội chứng chuyển hóa.
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống:
- Có khả năng đánh giá sự sử dụng glucose.
- Nghiệm pháp này được sử dụng để chẩn đoán tiền đái tháo đường và bệnh đái tháo đường, đặc biệt là để phát hiện đái tháo đường thai kỳ.ral glucose tolerance test - O
Chỉ định:
Trong lần khám thai đầu tiên
- Cho làm xét nghiệm glucose máu lúc đói, HbA1c hoặc glucose máu ngẫu nhiên để sàng lọc đái tháo đường lâm sàng (clinical diabetes), đái tháo đường thai kỳ (gestational diabetes) hoặc bình thường.
Ở tuần thứ 24-28 của thai kỳ
- Béo phì: chỉ số khối cơ thể (BMI) ≥ 30
- Tuổi trên 25
- Tiền sử gia đình có người bị đái tháo đường
- Tiền sử bản thân có đái tháo đường thai kỳ trong lần mang thai trước.
- Trước đây đã sinh một bé nặng trên 4,1 kg hoặc một thai chết lưu không rõ nguyên nhân.
Cách tiến hành:
- Không tiến hành nghiệm pháp dung nạp glucose huyết cho những bệnh nhân đã được xác định glucose huyết tăng rõ ràng và có các triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc đã có 2 mẫu glucose huyết lúc đói > 7,0mmol/L, những bệnh nhân có bệnh cấp tính, những người suy dinh dưỡng mạn tính, những người nằm liệt giương từ 3 ngày trở lên.
- Bệnh nhân ăn uống bình thường 3 ngày trước đó.
- Không dùng các thuốc thuộc nhóm glucocorticoid, thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn beta giao cảm ít nhất 3 ngày trước khi làm nghiệm pháp.
- Trước lúc làm nghiệm pháp phải nghỉ ngơi ít nhất 30 phút.
- Thử nghiệm được tiến hành vào buổi sáng sau khi nhịn đói sau ăn từ 10 – 14 giờ. Lấy máu xét nghiệm đường huyết lúc đói, sau đó cho bệnh nhân uống 75g glucose trong 5 phút. Định lượng glucose huyết tại thời điểm 1 và 2 giờ sau khi uống nước đường. Trong thời gian làm nghiệm pháp bệnh nhân có thể ngồi nhưng không được hút thuốc lá, uống cà phê.
Kết quả:
Trong lần khám thai đầu tiên
- Nếu một trong các giá trị glucose máu lúc đói > 7,0mmol/L, HbA1c > 6,5%, hoặc glucose máu ngẫu nhiên > 11,1mmol/L thì thai phụ bị đái tháo đường lâm sàng.
- Nếu glucose máu lúc đói từ 5,1 đến 7,0mmol/L thì thai phụ bị đái tháo đường thai kỳ.
- Nếu glucose máu lúc đói < 5,1mmol/L, đợi đến tuần thứ 24 đến 28 của thai kỳ, cho làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống để chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ.
Ở tuần thứ 24-28 của thai kỳ
- Nếu glucose máu lúc đói > 7,0mmol/L thì thai phụ bị đái tháo đường lâm sàng.
- Nếu một hoặc nhiều hơn các thông số ở bảng 2 lớn hơn giá trị nêu trên là đái tháo đường thai kỳ.
- Ở thai phụ bình thường, cả 3 thông số đều nhỏ hơn các giá trị nêu trên.
Nguồn: Bệnh viện 108
Mức cholesterol và quá trình chuyển hoá glucose có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi đường huyết tăng cao, nguy cơ rối loạn mỡ máu do tiểu đường cũng tăng lên. Đường huyết cao hoặc chuyển hoá glucose bị rối loạn sẽ làm tăng cholesterol.
Statin là một nhóm thuốc hiệu quả để điều trị cholesterol máu cao nhưng ở một số người, loại thuốc này gây ra những vấn đề như đau cơ, đau đầu và khó tiêu. Tình trạng này gọi là không dung nạp statin.
Triglyceride là một dạng chất béo lưu trữ năng lượng. Mức triglyceride trong máu thường cao hơn khi không nhịn ăn so với khi nhịn ăn. Cả hai mức này đều có thể được sử dụng để đánh giá nguy cơ mắc bệnh tim mạch và các vấn đề sức khỏe khác.
Nếu bạn chưa sử dụng thuốc hạ cholesterol (như statin) hoặc các loại thuốc điều trị cholesterol khác thì thông thường không bắt buộc phải nhịn ăn trước khi xét nghiệm mỡ máu (xét nghiệm cholesterol).
Nhịp tim lúc nghỉ ngơi trung bình thường dao động từ 60 đến 80 bpm, tuy nhiên, một số vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp đến 30-40 bpm. Nếu bạn là vận động viên hoặc là người thường xuyên tập thể dục, nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp thường không là vấn đề, thậm chí còn là biểu hiện cho trạng thái sức khỏe tốt. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy nhịp tim thấp đi kèm với các triệu chứng khác, như mệt mỏi hoặc chóng mặt.





