Nang khe mang - bệnh viện 103
1. Đại cương
- Nang khe mang là bệnh lý bẩm sinh hay gặp trên lâm sàng, xuất hiện ở trẻ em nhiều hơn người lớn. Tỷ lệ so với nang giáp móng chiếm 1/3. Bệnh lý nang có nguồn gốc từ sự phát triển không bình thường của bộ mang trong quá trình biệt hóa hình thành các cơ quan đầu mặt cổ thời kỳ phôi thai.
- Về chẩn đoán thường chủ yếu dựa vào lâm sàng, ít áp dụng các phương tiện chẩn đoán khác do vậy không có kinh nghiệm dễ dẫn đến chẩn đoán và điều trị sai lệch.
- Về điều trị nhìn chung không đơn giản, phẫu thuật mang tính triệt để. Tuy nhiên ở cơ sở không chuyên khoa, không hiểu biết đầy đủ về cơ chế bệnh sinh điều trị thường không có kết quả cao, để lại rò tái phát, viêm xơ dính gây khó khăn cho việc phẫu thuật sau này.
2. Cơ chế bệnh sinh
Trong thời kỳ phôi thai, bộ mang, các túi mang và các khe mang, bộ mang này biệt hóa để hình thành các cơ quan ở đầu mặt và cổ. Trong quá trình biệt hóa, một thành phần nào đó của bộ mang không tiêu đi, còn lại ta gọi là nang khe mang.
– Nang khe mang vùng loa tai:
Thường gặp ở vùng tam giác trước tai, ở quanh loa tai, hay cạnh dái tai, có thể kín hay dò ra da. Dị tật này do từ một phần của khe mang I hay từ ngoại bì của khe mang I lõm xuống tạo nên.
– Nang khe mang ở vùng cổ.
Dị tật này do nang khe mang II không bịt hết nên còn tồn tại xoang cổ. Phần lớn các trường hợp có rò ra ở vùng cổ, lỗ rò thường ở bờ trước cơ ức đòn chũm 1/3 trên hoặc 1/3 dưới, thường gặp ở tuổi thiếu niên, 10% dị tật này có ở hai bên.
– Nang khe mang rò vào trong họng:
Rất hiếm gặp, chỗ rò thường ở khe hạnh nhân khẩu cái.
– Nang khe mang rò xuyên bộ mang.
Đường rò từ vùng da ngoài cổ đi qua lớp mô dưới da, cơ bám da cổ, lớp cân cơ đến động mạch cảnh, đi qua giữa động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài đổ vào khe Amidan khẩu cái, có dị tật này là do tồn tại cả khe mang II và túi nang II kèm theo thủng màng nang.
– Nang khe mang ở vùng cổ trên.
Bình thường ngoại bì cung mang III và VI bị vùi vào bên trong xoang cổ và lấp kín xoang cổ. Trường hợp có khoảng trống bên trong xoang cổ sẽ tạo nên nang khe mang ở vùng cổ trên. Nang này thường ít rò có hình bầu dục hay hình túi dài, gặp ở vùng góc hàm dưới hoặc ở trước trên cơ ức đòn chũm. Loại mang này chỉ được phát hiện ở tuổi trưởng thành do khi đó nang đã đủ to.
– Còn di tích bộ mang.
Bình thường gọng sụn cung mang biến mất hoàn toàn. Trường hợp còn tồn tại gọng sụn, cung mang dưới dạng mô sụn, nằm ở dưới da hai bên cổ, phía trước 1/3 dưới cơ ức – đòn – chũm. Hình: Các dị tật của bộ nang
3. Lâm sàng
Lâm sàng của nang, rò khe mang rất đa dạng từ khe mang I, II đến túi mang III, VI. Tuy vậy thực tế đa số gặp nang và rò khe mang II chiếm 94% và khe mang I chiếm 4%, còn lại rất hiếm gặp (theo Bhaska). Ở Việt Nam theo thống kê của Lê Minh Kỳ trên 76 bệnh nhân có nang, rò mang cổ bên thì 17,1% do khe mang II, 9,22% do khe mang I và 76,68% rò xoang lê.
3.1. Nang và rò khe mang I.
Thường xuất hiện nang, rò ở cổ, tuyến mang tai và tai. Tuy nhiên thể hỗn hợp tai – cổ thường gặp nhất. Trên lâm sàng dị tật thường được chẩn đoán khi phát hiện thấy lỗ rò hoặc một chấm lõm trên mặt da nằm trong vùng tam giác poncet, tam giác này có đỉnh là sàn ống tai ngoài, đáy là đường nối giữa đỉnh cằm đến phần giữa thân xương móng. Phần lớn các trường hợp lỗ rò bên ngoài là thứ phát do nang bị nhiễm khuẩn tự vỡ mủ hoặc do chích nặn, chọc hút. Miệng lỗ rò thường bị sùi lên, xung quanh là da thâm nhiễm do những lần viêm nhiễm trước đó.
3.2. Nang và rò nang khe mang II.
Nang thường có hình bầu dục, hay túi dài ở vùng cổ bên dọc theo bờ trước cơ ức đòn chũm, có trường hợp nằm ở góc hàm. Thường được phát hiện khi trẻ đã lớn vì khi đó nang đã to, do chất tiết của tế bào biểu mô lòng nang và các tế bào chết bong ra.
Trường hợp rò là do hoặc nang bội nhiễm, nhiễm trùng tự vỡ, hoặc thầy thuốc chích rạch tháo mủ hay phẫu thuật không triệt để. Lỗ rò thường ở cổ bên thấp nằm dọc bờ trước cơ ức đòn chũm chỗ nối 1/3 giữa và 1/3 dưới cổ ống đường rò đi dưới cơ bám da cổ và cân cổ nông tiến về phía hố hạnh nhân khẩu cái. Sờ có thể thấy ống rò nằm dưới tai khi rò lâu ngày.
Ngoài ra còn có lỗ rò bên trong thường không khẳng định và khó phát hiện, lỗ rò này có thể ở hố Amydal, bờ tự do màn hầu, trụ trước hoặc trụ sau Amydal.
Xét nghiệm đối với nang, rò khe mang thường hay áp dụng: chụp cản quang nang hoặc đường rò. Nhưng kết quả phụ thuộc vào chụp có được như ý muốn hay không vì trẻ nhỏ, xác định đường rò khó, nang ở giai đoạn viêm hay không viêm. Xét nghiệm dương tính cho chẩn đoán xác định, xét nghiệm âm tính không cho phép loại trừ.
4. Điều trị
Trước kia đã có một số tác giả điều trị bằng tiêm xơ hóa nang, rò khe mang nhưng kết quả hạn chế hoặc không có kết quả.
Hiện nay điều trị nang, rò khe mang duy nhất bằng phẫu thuật. Mục tiêu của điều trị là phải lấy hết nang, đường rò, nếu không sẽ tái phát.
4.1. Nang, rò khe mang I.
Đa số các tác giả đều thống nhất không nên đi vào nang bằng đường rạch da hẹp, hình múi cam, rạch ngay quanh đường rò hoặc nang, mà phải mở rộng đường mổ rạch da như phẫu thuật tuyến mang tai kéo dài đến lớp lằn cổ dưới cực dưới của nang, đường rò. Đường rạch này cho phép được bộc lộ dây VII, có thể cắt bỏ được thùy nông tuyến mang tai và phẫu tích được hết nang, đường rò, trong phẫu thuật chú ý không làm tổn thương nhánh và dây thần kinh số VII.
Kết thúc phẫu thuật bằng đường mở ống tai ngoài, lấy đi một mảnh sụn sống tai ngoài có lỗ rò.
4.2. Nang và rò khe mang II.
Đường rạch da ngay nếp lằn cổ hình múi cam quanh lỗ rò, hoặc trên cực dưới nang. Sau đó phẫu tích bám sát vỏ nang hoặc đường rò lên phía trên, có thể trợ giúp việc dẫn đường bằng cách bơm thuốc xanh méthylen vào nang hoặc đường rò.
Nếu ống rò, hoặc nang lên quá cao, cần phải rạch thêm đường thứ hai theo nếp lằn cổ ở phía trên, đường rạch này cho phép bóc tách nang, đường rò đến tận máng cảnh, thành bên họng.
Nguồn: Bệnh viện 103
Chăm sóc bệnh nhân ung thư sau hóa trị như thế nào?
Đương đầu với hành trình hóa trị ung thư không chỉ là sự khó khăn của người bệnh mà còn là thử thách với người thân. Làm thế nào để chăm sóc bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người bệnh vượt qua những mệt mỏi về sức khỏe lẫn trở ngại tinh thần?
- 0 trả lời
- 1090 lượt xem
Quan hệ tình dục là một nhu cầu sinh lý bình thường ở tất cả mọi người bao gồm cả những bệnh nhân ung thư. Vậy bệnh nhân ung thư thường có những vấn đề gì khi quan hệ tình dục, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





