Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập284
  • Máy chủ tìm kiếm51
  • Khách viếng thăm233
  • Hôm nay56,000
  • Tháng hiện tại1,227,441
  • Tổng lượt truy cập43,080,724

Khám và chẩn đoán viễn thị - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

1. Bệnh sử

Việc hỏi bệnh sử sẽ xoay quanh lý do đến khám của bệnh nhân, tiền căn bệnh lý về mắt và toàn thân, việc sử dụng thuốc, nhu cầu về thị giác.

  • Phụ huynh của trẻ viễn thị thường đưa con đi khám vì các lý do: mắt trẻ bị đỏ, mắt kích thích chảy nước mắt, nhìn không rõ hoặc không thoải mái, hoặc nghi ngờ bị lác.
  • Trẻ lớn thường sẽ than phiền với các triệu chứng liên quan tới thị giác, trẻ được phát hiện khi khám sàng lọc tại trường.
  • Người lớn có viễn thị từ trung bình sẽ than phiền khi làm việc lâu bằng mắt dưới điều kiện ánh sáng yếu.
  • Bệnh nhân ở tuổi lão thị thường sẽ than phiền rằng thị giác ngày càng tệ đi nhất là thị giác gần.

2. Khám khúc xạ

  • Soi bóng đồng tử là phương pháp phổ biến nhất trong việc khám viễn thị.
  • Qui trình khám có thể bao gồm: khám máy khúc xạ tự động, soi bóng đồng tử, khám khúc xạ chủ quan.

3. Soi bóng đồng tử

  • Việc yêu cầu bệnh nhân nhìn cố định vào vật tiêu ở xa kèm theo sương mù sẽ làm bệnh nhân buông thả điều tiết. Ta có thể soi bóng đồng tử sau khi liệt điều tiết của bệnh nhân giúp phát hiện viễn thị tiềm ẩn của bệnh nhân.
  • Qua việc quan sát bóng đồng tử: màu sắc, độ sáng, mức độ di chuyển của bóng đồng tử, người khám sẽ có thêm thông tin về tình trạng điều tiết của bệnh nhân, sự định thị, và một số mặt khác của thị giác của bệnh nhân.
  • Việc bệnh nhân nhìn định thị vào vật tiêu và soi trong hướng trục thị giác của bệnh nhân là quan trọng. Đối với trẻ em việc định thị đôi khí rất khó khăn, ta có thể dùng các phim video hoặc đồ chơi để thu hút sự chú ý của trẻ.
  • Trong trường hợp bệnh nhân bị lác, ta cần che mắt kia của bệnh nhân và soi trên 1 mắt của bệnh nhân để tránh soi không đúng hướng trục thị giác và người khám có thể đánh giá mức độ định thị và sự điều tiết của bệnh nhân qua việc quan sát sự thay đổi của bóng đồng tử.

4. Soi bóng đồng tử có liệt điều tiết

  • Phương pháp này giúp ta tìm ra được toàn thể độ viễn của bệnh nhân kể cả viễn thị tiềm ẩn.
  • Do tác dụng của thuốc liệt điều tiết làm đồng tử bệnh nhân giãn nên làm cho việc soi có khó khăn hơn vì quang sai chu biên.
  • Việc khám khúc xạ viễn thị bằng soi bóng đồng tử có liệt điều tiết trên trường hợp bệnh nhân có lác trong là rất quan trọng.

5. Khúc xạ chủ quan

  • Đây là phương pháp đo ra độ viễn thị để kê toa cho bệnh nhân đeo trong trường trường hợp trẻ lớn và người lớn vì phương pháp này cho phép đánh giá sự dung nạp của bệnh nhân với công thức kính điều chỉnh.
  • Tuy nhiên các bệnh nhân viễn thị có lác trong hoặc có các rối loạn khác về thị giác 2 mắt thì độ điều chỉnh có thể khác độ khúc xạ xác định bởi phương pháp chủ quan.
  • Khúc xạ chủ quan có thể tiến hành trên nền công thức khúc xạ với phương pháp soi bóng đồng tử và kết quả được kê cho bệnh nhân đeo cần dựa trên nhu cầu thị giác của bệnh nhân.

6. Khám thị giác 2 mắt, vận nhãn và điều tiết

Việc khám thị giác 2 mắt, vận nhãn và điều tiết trên bệnh nhân viễn thị rất cần thiết vì sự bất thường của một trong các chức năng này có thể làm ảnh hưởng đến chức năng thị giác.

Các test sẽ là:

  • Khám cover test
  • Cận điểm qui tụ
  • Biên độ điều tiết
  • Thị giác hình nổi.

7. Khám các bệnh l‎ý về mắt và bệnh l‎ý toàn thân

  • Việc khám chẩn đoán để loại trừ các bệnh lý về mắt có thể là nguyên nhân của viễn thị.
  • Khám phản xạ đồng tử, khám thị trường ước lượng, sắc giác, khám bán phần trước và sau của nhãn cầu và các bộ phận phụ thuộc.
  • Khám đáy mắt có nhỏ giãn với sinh hiển vi, đèn soi đáy mắt hình đảo giúp ta đánh giá tình trạng của các môi trường trong suốt và bán phần sau của nhãn cầu.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây