Hạ Natri máu: nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Ca bệnh
Bệnh nhân C. (nữ, 48 tuổi) vào viện vì hôn mê. Khoảng 1 tháng trước, thấy người mệt mỏi tăng dần, chị C tự bốc thuốc uống. 3 ngày nay xuất hiện nôn nhiều, li bì, được đưa vào viện trong tình trạng hôn mê, xét nghiệm hóa sinh ở tuyến ban đầu có Natri = 103 và Clo = 78.
Bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, khai thác kĩ tiền sử: Khi sinh con lần thứ 3, chị C. có tình trạng chảy máu sau sinh và phải truyền máu, trẻ ăn sữa ngoài hoàn toàn do mẹ không có sữa và sau đó mãn kinh sớm ở tuổi 25.
Khám lâm sàng có các dấu hiệu điển hình: rụng lông mày, nách, mu, gương mặt vô cảm, tuyến vú teo… nên đưa ra chẩn đoán theo dõi hội chứng Sheehan (suy tuyến yên). Điều trị tại viện sau 1 ngày, bệnh nhân đã tỉnh táo trở lại, vận động đáp ứng trả lời đúng.
Hạ natri máu
- Hạ natri máu xảy ra khi nồng độ natri trong máu thấp hơn ngưỡng bình thường 135 145 mEq/L.
- Natri có vai trò giúp duy trì huyết áp bình thường, hỗ trợ hoạt động của các dây thần kinh, cơ bắp và điều chỉnh cân bằng lượng nước trong và ngoài tế bào.
Nguyên nhân
- Giảm áp lực thẩm thấu máu có thể tích ngoại bào tăng.
- Thể tích dịch ngoại bào bình thường.
- Giảm áp lực thẩm thấu máu với thể tích dịch ngoại bào giảm.
- Hạ Natri máu giả tạo: Trong các trường hợp như tăng lipit máu, tăng protein máu, tăng đường máu, truyền mannitol.
- Thể tích dịch ngoại bào tăng trong suy tim, xơ gan cổ chướng, hội chứng thận hư mất protein.
- Thể tích dịch ngoại bào bình thường do pha loãng gặp trong hôi chứng tiết ADH không thỏa đáng trong các bệnh cận ung thư
- Hạ natri máu kèm theo giảm thể tích dịch ngoại bào (hay mất natri nhiều hơn mất nước) chia làm 2 loại:
- Do dùng lợi tiểu, suy thượng thận, giai đoạn đái trở lại của suy thận cấp, bệnh thận kẽ.
- Mất ngoài thận: bệnh nhân mất qua tiêu hóa: nôn, tiêu chảy, dò tiêu hóa; bỏng, mồ hôi, chấn thương.
Triệu chứng lâm sàng
- Các triệu chứng cơ năng thường gặp: chán ăn, buồn nôn, nôn, sợ nước.
- Nặng hơn là mệt mỏi, đau đầu, lẫn lộn, u ám, mê sảng, rối loạn ý thức, hôn mê, cơn co giật.
- Các triệu chứng của tăng thể tích nước ngoài tế bào (phù, cổ chướng) hoặc mất nước ngoài tế bào (giảm cân, da khô, nhăn nheo,…) kèm theo có giá trị để chẩn đoán nguyên nhân.
Những đối tượng có nguy cơ
- Các bệnh nhân có bệnh mạn tính: suy thận, suy tim, xơ gan…;
- Các bệnh nhân có tình trạng mất dịch cấp: nôn nhiều, đi ngoài phân lỏng nhiều lần, say nóng,…;
- Các bệnh nhân điều trị các thuốc lợi niệu;
- Các bệnh nhân có bệnh lý liên quan đến tuyến hocmon trong cơ thể.
Điều trị
- Dựa vào nguyên nhân, tính chất và mức độ của hạ Natri máu mà bệnh nhân được điều trị theo các hướng thích hợp:
- Với những bệnh nhân ứ nước như trong suy tim, suy thận thì hạn chế nước và muối.
- Với những bệnh nhân hạ Natri nặng có tình trạng mất dịch: bù chủ yếu là dung dịch muối đẳng trương.
- Với những bệnh nhân hạ Natri máu nặng có thể tích dịch ngoại bào bình thường khi bù muối ưu trương với hạ Natri máu không thiếu dịch cần tính toán và điều chỉnh liều Natri máu tăng lên không quá 0,5 Meq trong 1 giờ và 10 Meq trong 24 giờ.
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội





