Biến chứng và tiến triển của sỏi túi mật
1. Khái quát về sỏi túi mật
Sỏi túi mật là tinh thể rắn do các thành phần có trong dịch mật kết tinh thành. Đây là một trong những bệnh lý tiêu hóa thường gặp nhất. Hầu hết những người bị sỏi túi mật đều không có dấu hiệu hay triệu chứng gì trong nhiều năm. Nhưng ở những bệnh nhân đã bị sỏi mất > 10 năm thì có khoảng 1/3 trong số họ sẽ xuất hiện các triệu chứng do sỏi làm tắc nghẽn đường mật gây ra. Sự ứ trệ dịch mật kéo dài làm tăng áp lực trong túi mật, dẫn đến triệu chứng như đau bụng, có thể kèm theo 1 số triệu chứng như vàng da, sốt cao, nôn mửa...
2. Tiến triển và một số biến chứng của sỏi túi mật
Hầu hết các bệnh nhân sỏi túi mật thường không có triệu chứng lâm sàng. Mỗi năm có khoảng 1-2% bệnh nhân sỏi túi mật không triệu chứng xuất hiện các triệu chứng hoặc biến chứng. Khi đã có triệu chứng cơn đau quặn mật, các cơn đau có khuynh hướng tái phát.
Sỏi túi mật nếu “im lặng” thì không nguy hiểm, nhưng nếu sỏi đã gây triệu chứng thì đó cũng là những dấu hiệu cảnh báo biến chứng đang xảy ra:
- Viêm túi mật cấp: Là biến chứng thường gặp nhất của sỏi túi mật, đặc trưng bởi tình trạng viêm thành túi mật. Nguy cơ viêm túi mật cấp tăng lên ở những người mắc sỏi mật có kích thước lớn vì nguy cơ sỏi có thể bị mắc kẹt lại bên trong túi mật cũng tăng lên. Triệu chứng điển hình bao gồm sốt và đau vùng bụng trên bên phải kéo dài, tăng lên khi sờ, thở sâu và ho. Số lượng bạch cầu gia tăng nói lên sự hiện diện của viêm hoặc nhiễm trùng túi mật. Mặc dù hiếm khi viêm túi mật gây thủng hoặc vỡ túi mật, việc điều trị cũng không quá khó khăn (dùng đúng khắng sinh và đủ liều là có thể điều trị khỏi hoàn toàn) tuy nhiên cũng có khi viêm túi mật cấp không được chữa trị kịp thời có thể diễn tiến thành những biến chứng nặng hơn như hoại tử túi mật, thủng túi mật. Khi túi mật thủng, mật sẽ lan tràn vào những cơ quan kế cận như là phúc mạc, gây thấm mật phúc mạc, nặng hơn là viêm phúc mạc mật, sốc nhiễm trùng đường mật ... thậm chí dẫn đến tử vong.
- Viêm túi mật mạn tính: Là tình trạng viêm túi mật tái đi tái lại nhiều lần. Khi bị viêm túi mật mạn, lâu ngày thành túi mật dày lên và xơ hóa sẽ làm mất hoàn toàn chức năng cô đặc và dự trữ dịch mật.
- Hội chứng Mirizzi: Xảy ra là do sỏi từ ống túi mật hoặc ở cổ túi mật chèn vào đường mật kế cận, gây ra sự chèn ép một phần hoặc hoàn toàn ống gan chung và gây tắc mật. Bệnh gây vàng da, nhiễm khuẩn đường mật tái đi tái lại. Ở giai đoạn muộn, viên sỏi gặm mòn cổ túi mật gây nên tình trạng rò túi mật - ống mật chủ.
- Sỏi mật ruột: Khi túi mật thủng, sỏi mật có thể đi qua chỗ thủng để vào ruột non. Nếu viên sỏi mật lớn khi rơi vào đường ruột, có thể bị tắc nghẽn ở van ileocecal (hay van hồi - manh tràng, là cơ vòng nằm ở ngay ngã ba ruột non và ruột già), gây xói mòn thành ruột non. Khi đó, các sản phẩm thải của cơ thể có thể kết tụ lại với nhau, tạo thành viên sỏi tại nơi tổn thương này. Viên sỏi lớn có thể gây tắc ruột gọi là tắc ruột do sỏi. Và tắc ruột dù do bất cứ nguyên nhân thì cũng đều là một cấp cứu nặng nề của ngoại khoa tiêu hóa.
- Sỏi mật cũng có thể di chuyển từ túi mật vào trong đường mật. Bệnh nhân bị sỏi trong đường mật nếu không gây tắc nghẽn đường mật thì thường cũng không có triệu chứng gì. Nhưng khi sỏi làm tắc nghẽn đường mật lúc đó cũng sẽ gây ra 1 cơn đau dữ dội (cơn đau quặn mật) và có các biến chứng như:
- Vàng da tắc mật: Khi sỏi chặn ống mật cản trở dòng chảy của mật vào tá tràng, các sắc tố mật không được giải phóng vào đường ruột dẫn tới làm tăng nồng độ bilirubin trong máu (chủ yếu là bilirubin liên hợp). Nếu không được điều trị thích hợp, khi nồng độ bilirubin tiếp tục tăng cao, Bilirubin có thể thấm vào các mô thần kinh gây ngộ độc. Biểu hiện trên lâm sàng là các triệu chứng như đau bụng mật kèm theo vàng da, nước tiểu sẫm màu, phân nhạt màu và ngứa.
- Nhiễm trùng đường mật: Là tình trạng dịch mật trong ống dẫn mật bị nhiễm khuẩn do vi khuẩn được hình thành khi dòng chảy bị tắc nghẽn hoặc giảm do sỏi đường mật. có thể gây ra sốt cao rét run, đôi khi dẫn tới nhiễm trùng huyết làm đe dọa tính mạng bệnh nhân.
- Viêm tụy cấp: Sỏi di chuyển đến bóng Vater (nơi hội tụ của ống mật chủ và ống tụy chính trước khi đổ vào khúc 2 tá tràng) và kẹt ở đó. Khi đó nó không chỉ gây tắc mật mà còn làm tắc luôn ống tụy chính. Các men tụy (có đầy đủ các loại men tiêu hóa có khả năng tiêu hóa hầu hết các loại thức ăn) bình thường ở dạng chưa hoạt hóa trước khi đổ vào tá tràng nay do không được đổ vào ống tiêu hóa nên bị hoạt hóa trở thành dạng hoạt hóa ngay trong ống tụy chính, tiêu hóa luôn chính nhu mô tụy ? gây viêm tụy cấp, là 1 cấp cứu nội khoa hết sức nặng nề, có thể tiếp tục diễn biến thành nhiều biến chứng nặng khác, thậm chí đe dọa suy đa tạng và tử vong.
- Ung thư túi mật: Nhiều trường hợp được phát triển từ sỏi mật lâu năm và viêm túi mật mãn tính. Người bệnh thường không có triệu chứng cho đến khi ung thư phát triển, và được chẩn đoán tình cờ sau khi cắt túi mật.
- Có thể nói, sỏi túi mật cần được phát hiện và điều trị sớm để giúp điều trị bệnh hiệu quả và tránh các biến chứng nghiêm trọng do sỏi gây ra.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Túi thừa là những túi nhỏ, phồng lên hình thành trong lớp niêm mạc của đường tiêu hóa mà chủ yếu là ở phần dưới của đại tràng (ruột già). Sự hình thành túi thừa trong đường tiêu hóa là điều rất phổ biến, đặc biệt là sau 40 tuổi và hiếm khi gây ra vấn đề.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.
Nếu không được điều trị, tình trạng loét đường tiêu hóa sẽ ngày càng nặng và dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như thủng dạ dày – ruột, chảy máu trong và hình thành sẹo.
Loét dạ dày là bệnh có thể chữa khỏi nhưng nếu trì hoãn hoặc không điều trị đúng cách thì tình trạng sẽ ngày càng nặng và còn dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng hơn.
Trào ngược axit có thể xảy ra vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Tuy nhiên, hầu hết mọi người thường gặp các triệu chứng vào ban đêm.





