Viêm giác mạc do Acanthamoeba - bệnh viện 103
Viêm giác mạc do Acanthamoeba được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1973 ở Mỹ. Tác nhân là một loại sinh vật đơn bào (amoeba) sống nhiều trong không khí, đất, nước nguồn tự nhiên và tồn tại dưới 2 dạng là dạng hoạt động (trophozoite) dễ chịu tác động của môi trường và dạng tiềm ẩn (cystic) khá bền vững với mọi tác động hoá, lý.
Bởi vậy acanthamoeba có thể tồn tại rất lâu ở môi trường đông lạnh, trong nước đã tiệt trùng với chloramin dưới dạng nang, chờ có điều kiện thuận lợi sẽ chuyển sang dạng hoạt động và gây bệnh. Acanthamoeba có khả năng chuyển qua lại giữa hai dạng nên việc điều trị thường khó khăn khi chúng ở dạng nang do thuốc không tác động dược tới nang acanthamoeba.
Theo các tác giả trên thế giới, viêm giác mạc do acanthamoeba thường xảy ra ở những người đeo kính tiếp xúc do họ có thói quen rửa kính bằng nước vòi thay vì bằng dung dịch rửa kính chuyên dụng. ở nước ta do chưa phổ biến việc dùng kính tiếp xúc nên chủ yếu gặp viêm loét giác mạc do acanthamoeba ở những mắt có tổn hại biểu mô giác mạc do vi chấn thương (bụi, que chọc, đất cát bắn vào mắt).
Việc chẩn đoán thường khó khăn và bị muộn sau nhiều tuần hoặc thậm chí hàng tháng do dễ nhầm với viêm loét giác mạc do nấm, herpres hay vi khuẩn.
1. Bệnh cảnh lâm sàng
1.1. Triệu chứng chủ quan:
- Biểu hiện nhìn mờ
- Mắt đỏ
- Chói chảy nước mắt
- Đặc biệt là đau nhức rất mạnh
- Nhiều khi không tương ứng với tổn thương nhỏ và nông trên giác mạc.
1.2. Triệu chứng thực thể:
- Giai đoạn sớm trong vòng 1- 4 tuần đầu: thường hay bị bỏ sót do hình ảnh không điển hình với các ổ viêm quanh rìa. Đôi khi tổn thương có dạng viêm giác chấm nông hoặc hình cành cây giống viêm do herpes.
- Muộn hơn, các ổ thẩm lậu lan rộng, kết hợp nhau tạo thành ổ loét tròn hoặc oval có vòng thẩm lậu đặc hơn ở chu vi ổ loét tạo hình ảnh ap-xe vòng đặc trưng, kèm theo là mủ tiền phòng với mức độ khác nhau tùy đậm độ của ổ ap-xe. Chu vi ổ ap-xe có những ổ thẩm lậu vệ tinh và chúng có thể kết nối với nhau làm cho tổn thương ngày càng lan rộng và vào sâu trong giác mạc.
- Khi bệnh tiến triển chậm và nặng lên, ap-xe lan vào các lớp sâu của giác mạc và ra củng mạc, có thể lan cả vào nội nhãn và khó bảo tồn nhãn cầu.
1.3. Xét nghiệm:
- Tìm sự hiện diện của acanthamoeba trong chất nạo ổ loét giác mạc cho thấy hình ảnh nang (cyst) acanthamoeba hình sao hoặc đa diện với hai lớp vỏ, diện tích gần như tế bào biểu mô.
- Nhuộm tiêu bản với thuốc nhuộm Giemsa hoặc Gram sẽ thấy rõ các cyst bắt màu tím đỏ. Bệnh phẩm được nuôi cấy trong môi trường thạch nghèo dinh dưỡng.
2. Điều trị
Gọt giác mạc: nên áp dụng ngay trong giai đoạn đầu của bệnh, khi tổn thương khu trú ở phần trước giác mạc nhằm loại bỏ bớt tác nhân gây bệnh và giúp cho thuốc ngấm vào nhu mô tốt hơn.
Điều trị thuốc:
- Thuốc đặc hiệu chống amip: thường phổ biến dùng propamidine isethionate 0,1% (biệt dược là Brolene) tra 2 giờ/ 1 lần.
- Phối hợp thuốc kháng sinh hỗn hợp neomycin, polymyxin B và gramicidin (biệt dược là neosporin, opsacin) tra 8- 10 lần/ ngày phối hợp với kháng sinh chống nấm tra (ketoconazole hoặc natamycin) và uống ketoconazole 400 mg/ ngày hoặc itraconazole 200 mg/ ngày.
Các phương pháp phối hợp khác:
- Chấm lugol 5%: có tác dụng hủy diệt amip tại chỗ trong những trường hợp loét giác mạc nông, rộng hoặc ngay sau khi gọt giác mạc.
- Ghép giác mạc: được chỉ định khi điều trị thuốc đặc hiệu lâu không có kết quả và bệnh vẫn tiến triển quá nặng nguy cơ đến sự toàn vẹn của nhãn cầu.
Nguồn: Bệnh viện 103
Bong võng mạc xảy ra khi võng mạc tách khỏi phía sau của mắt. Điều này dẫn đến mất thị lực một phần hoặc hoàn toàn, tùy thuộc vào mức độ bong ra của võng mạc.





