Vi khuẩn Whitmore - bệnh viện 103
VI KHUẨN WHITMORE (BURKHOLDERIA PSEUDOMALLEI)
Mở bài:
Năm 1912 Whitmor phân lập được vi khuẩn từ một bệnh nhân nghiện ma túy bị tử vong ở Rangoon. Bệnh do vi khuẩn này gây nên được gọi là bệnh Melioidose và vi khuẩn mang tên là trực khuẩn Whitmore, tên khoa học là Pseudomonas pseudomalei (hiện được gọi là Burkholderia pseudomalei)
Ở Việt nam, năm 1937 viện Pasteur Đông Dương (nay là viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh) lần đầu tiên đã phân lập và định danh được trực khuẩn B. pseudomalei. Năm 1946, các tác giả người Pháp nghiên cứu trên 152 mẫu bệnh phẩm từ bệnh nhân ở Việt Nam đã phát hiện 50 mẫu có trực khuẩn B. pseudomalei. Năm 1950, nhà khoa học người Pháp là Chambon thông báo kết quả điều tra về bệnh Melioidose và trực khuẩn Whitmore ở Việt Nam. Theo tài liệu của Chambon, 15% số mẫu máu điều tra vi khuẩn từ nước ở đồng ruộng miền Nam Việt Nam đã phân lập được loài vi khuẩn này. Tác giả Stanford thông báo từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 12 năm 1969 có 187 lính Mỹ bị bệnh Melioidose và trong số đó có 13 trường hợp tử vong. Tác giả cũng cho biết, những người bị chấn thương, tiểu đường có nguy cơ mắc bệnh cao.
Đây là loài vi khuẩn hoại sinh trong đất, bùn, nước lạnh, rau, lúa nước.
1. Đặc điểm sinh học
1.1. Hình thể
Whitmore hình trực khuẩn, hai đầu tròn, có từ 1 đến 4 lông, không sinh bào tử. Gram âm.
1.2. Nuôi cấy
Vi khuẩn ưa khí, dễ mọc được trên môi trường dinh dưỡng thông thường. Không sinh sắc tố.
Trên thạch thường sau 18 – 24 giờ khuẩn lạc dạng S, đường kính 1 – 2 mm, nhẵn, trong, óng ánh. Sau 48 giờ khuẩn lạc trở thành dạng R, xù xì, thô, đôi khi thành dạng M mọc lan rộng thành đám, có mùi đặc biệt. Nhiệt độ thích hợp 420C. Trên môi trường lỏng (pepton glyxerin): sau 18 – 24 giờ vi khuẩn mọc làm đục môi trường và tạo váng ở bề mặt
1.3. Sức đề kháng
Whitmore tồn tại lâu trong đất, ở phòng thí nghiệm giữ trong thạch được 6 – 8 tháng. Nhạy cảm với tia cực tím. Chết ở 580C trong 15 phút, bởi formon 0,5% và Crezin 4%.
Vi khuẩn nhạy cảm với chloramphenicol, gentamycin, tetracyclin, rifampycin. Đề kháng penixilin, ampicilin và polymicin.
1.4. Kháng nguyên
- Whitmore có 2 týp kháng nguyên Wh1 và Wh2.
- Vi khuẩn có kháng nguyên: H, O, K, M. Trong đó, kháng nguyên O và K tạo kháng thể bảo vệ, kháng nguyên M gây nên phản ứng ngưng kết.
2. Khả năng gây bệnh
2.1. Độc lực:
Vi khuẩn có nội độc tố, bản chất là phức hợp protein – lipopolysacharit.
2.2. Gây bệnh cho người:
Đường lây: bệnh do Whitmore gây nên lây qua da bị xây sát, qua niêm mạc đường hô hấp và đường tiêu hoá. Điều kiện thuận lợi cho lây nhiễm là người tiếp xúc nhiều với nước, bùn hoặc động vật bị bệnh (ngựa, trâu, bò).
Vi khuẩn gây bệnh Meliodose. Thời gian ủ bệnh ngăn, sau 2 – 3 ngày, nhưng cũng có thể ủ bệnh từ vài tháng đến vài năm. Bệnh biểu hiện 3 thể: thể nhiễm khuẩn huyết có thể gây apxe phủ tạng ( ví dụ: apxe não, gan, xương và một số cơ quan khác) và dễ dẫn tới tử vong. Thể phổi có thể dẫn tới nhiễm khuẩn huyết. Thể da gây viêm loét có mủ kéo dài.
Trường hợp bệnh điển hình có các triệu chứng sốt cao, khó thở, nghe phổi có ran ẩm, loạn nhịp tim, bạch cầu và tốc độ máu lắng tăng. Thể nhiễm khuẩn huyết tỷ lệ tử vong rất cao (96%). Nếu điều trị tích cực tỷ lệ này cũng trên 50%. Một số trường hợp bệnh biểu hiện với triệu chứng nổi ban, ỉa chảy.
Miễn dịch: đã có thông báo về các trường hợp tái nhiễm bệnh Meliodose.
2.3. Gây bệnh cho động vật:
Phần lớn động vật máu nóng có thể mắc bệnh (lợn, trâu, bò, ngựa, cừu, dê và một số động vật khác). Trong phòng thí nghiệm, Whitmore có thể gây bệnh ở thỏ, chuột lang, chuột nhắt trắng và chuột cống trắng. Bệnh biểu hiện bằng nhiễm trùng máu và nhiều ổ apxe ở gan, lách, phổi,…
3. Chẩn đoán
3.1. Bệnh phẩm
Bệnh phẩm là máu, mủ, đờm, nước tiểu. Đối với tử thi có thể lấy gan, lách, thận. Điều tra dịch tễ có thể lấy phân động vật, đất, bùn, nước lạnh, lúa nước,và rau để phân lập vi khuẩn.
3.2. Phương pháp hiển vi: chỉ có giá trị định hướng chẩn đoán.
3.3. Nuôi cấy
Cấy bệnh phẩm vào môi trường thạch máu hoặc addow, thạch có 5% glycerin, để ở 370C, 24 giờ sau quan sát khuẩn lạc của vi khuẩn, nhuộm Gram và thử các tính chất sinh vật hóa học.
3.4. Chẩn đoán huyết thanh
Hiệu giá ngưng kết > 1/160 mới có giá trị chẩn đoán.
3.5. các phương pháp khác
– Phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động.
– Phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp hoặc gián tiếp.
– Gây bệnh cho động vật.
4. Phòng bệnh và điều trị
4.1. Phòng bệnh
– Phòng không đặc hiệu: phát hiện động vật ốm để cách ly, diệt chuột, khử trùng tẩy uế. Vào vùng có Whitmore lưu hành thì nên dùng thuốc kháng sinh dự phòng.
– Phòng đặc hiệu: hiện nay chưa có vaccine.
4.2. Điều trị
Nhìn chung bệnh Meliodose có tỷ lệ tử vong cao và khó điều trị. Việc phẫu thuật làm sạch vết thương nhanh chóng luôn đóng vai trò quan trọng. Cần phải làm kháng sinh đồ để lựa chọn thuốc điều trị.
Kháng sinh liều cao tetracyclin, chloramphenicol, gentamycin, co-trimoxazol, amoxicillin, ticarcillin phối hợp với acid clavulanic và cephalosporin thế hệ 3 để điều trị bệnh do Whitmore gây nên. Với những trường hợp tái nhiễm thì lựa chọn tốt nhất vẫn là điều trị bằng kháng sinh dài ngày.
Nguồn: Bệnh viện 103





