Ung thư di căn phúc mạc - Bệnh viện 108
Phúc mạc:
- Là một lớp thanh mạc liên tục, che phủ mặt trong thành bụng và bọc lấy tất cả các tạng thuộc ống tiêu hóa và một số tạng khác ở trong ổ bụng.
- Phúc mạc bao gồm lá thành, lá tạng và lá trung gian (mạc nối, mạc treo, dây chằng).
- Ung thư ở phúc mạc bao gồm ung thư phúc mạc nguyên phát và ung thư phúc mạc thứ phát (hay còn gọi là ung thư di căn phúc mạc).
Triệu chứng:
- Giai đoạn sớm (thậm chí ngay cả một số bệnh nhân đã di căn phúc mạc lan làn), không có hoặc có rất ít triệu chứng lâm sàng.
- Một số triệu chứng gợi ý di căn phúc mạc bao gồm: mệt mỏi, chán ăn, gầy sút cân nhanh, đầy bụng hoặc đau bụng, khó tiêu, no trước khi ăn xong, cảm giác áp lực ở bụng hoặc hố chậu, buồn nôn hoặc nôn.
- Khi có các triệu chứng như tràn dịch ổ bụng, bán tắc ruột, tắc ruột thì thường bệnh đã ở giai đoạn muộn.
Xét nghiệm:
- Dấu ấn ung thư 4 yếu tố: loại u; thể mô bệnh học
- Mức CA19.9 và số lượng tế bào lymphocyte có thể tiên lượng khả năng di căn phúc mạc
- Siêu âm ổ bụng: siêu âm ổ bụng thường không phát hiện được các tổn thương nhỏ ở phúc mạc.
Chẩn đoán:
- Nội soi ổ bụng sinh thiết có giá trị chẩn đoán xác định ung thư ở phúc mạc.
- Tuy nhiên, nội soi ổ bụng là can thiệp xâm lấn, có tai biến biến chứng.
- Độ chính xác chẩn đoán của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh (CT, MRI, PET/CT) là không thỏa đáng, nhưng phân tích đặc điểm hình ảnh là một công cụ bổ trợ hữu ích cho dự đoán di căn phúc mạc.
Điều trị:
Phẫu thuật cắt giảm u:
- Phẫu thuật cắt giảm u (cytoreductive surgery CRS) được định nghĩa bởi Paul Sugarbaker, xác định mục tiêu của kỹ thuật là loại bỏ tất cả các tổn thương nhìn thấy được trong ổ bụng và tiểu khung.
- Cắt bỏ phúc mạc (Peritonectomy) nhằm loại bỏ ung thư trên bề mặt phúc mạc, hướng tới mục tiêu là loại bỏ triệt căn các khối u
- Phẫu thuật cắt giảm u hiện được chỉ định trong ung thư biểu mô di căn phúc mạc nguyên phát từ đại trực tràng, dạ dày, buồng trứng, ruột thừa, u trung biểu mô ở phúc mạc
Hóa chất trong phúc mạc:
- Hóa trị trong phúc mạc và hóa trị toàn thân tiền phẫu (neoadjuvant intraperitoneal and systemic chemotherapy NIPS). Có tác dụng làm giảm khối lượng u, tạo điều kiện cho CRS và hóa chất trong phúc mạc nhiệt độ cao.
- Hóa chất trong phúc mạc nhiệt độ cao (hyperthermic intraperitoneal chemotherapy HIPEC) được sử dụng ngay sau khi thực hiện CRS. Một số loại hóa chất tăng hiệu quả khi kết hợp với tăng thân nhiệt nhẹ (khoảng 41 43°C).
- Hóa chất trong phúc mạc được thực hiện trong 3 5 ngày sau phẫu thuật được gọi là hóa trị trong phúc mạc sau phẫu thuật sớm (early postoperative intraperitoneal chemotherapy EPIC).
- Hóa chất trong phúc mạc tiếp sau phẫu thuật (sequential postoperative intraperitoneal chemotherapy SPIC). Củng cố kết quả của CRS bằng cách thêm các chu kỳ hóa trị trong phúc mạc sau phẫu thuật.
Điều trị toàn thân:
- Do hàng rào “máu phúc mạc”, hóa chất đường tĩnh mạch tác động rất kém đến các khối u ở phúc mạc.
- Do vậy, hóa chất toàn thân thường được tích hợp với phẫu thuật cắt giảm u và hóa chất tại chỗ trong phúc mạc
- Khuyến cáo điều trị đích, điều trị miễn dịch theo từng loại ung thư cụ thể.
Nguồn: Bệnh viện 108
Chăm sóc bệnh nhân ung thư sau hóa trị như thế nào?
Đương đầu với hành trình hóa trị ung thư không chỉ là sự khó khăn của người bệnh mà còn là thử thách với người thân. Làm thế nào để chăm sóc bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người bệnh vượt qua những mệt mỏi về sức khỏe lẫn trở ngại tinh thần?
- 0 trả lời
- 984 lượt xem
Ung thư buồng trứng xảy ra khi tế bào không bình thường phát triển trong một hoặc cả hai buồng trứng của bạn. Buồng trứng là hai tuyến nhỏ, nằm ở hai bên tử cung.
Ngày càng nhiều phụ nữ, cũng như một số ít nam giới (nhưng số lượng tăng dần) sử dụng thuốc nhuộm tóc. Có lẽ bạn từng nghe những lời đồn thổi về việc thuốc nhuộm tóc gây ung thư? Không ít các nghiên cứu coi thuốc nhuộm tóc như một yếu tố rủi ro có thể dẫn tới nhiều loại bệnh ung thư. Bài viết dưới đây sẽ thảo luận về những điều mà nghiên cứu chỉ ra để chúng ta có thể yên tâm đưa ra quyết định.
Quan hệ tình dục là một nhu cầu sinh lý bình thường ở tất cả mọi người bao gồm cả những bệnh nhân ung thư. Vậy bệnh nhân ung thư thường có những vấn đề gì khi quan hệ tình dục, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





