Ứng dụng của đo niệu động học trong chẩn đoán rối loạn đường tiểu
1. Rối loạn đường tiểu là gì?
Những biểu hiện của rối loạn chức năng tiểu tiện bao gồm:
- Tiểu khó: Đau, rát hoặc khó đi tiểu;
- Tiểu không tự chủ: Không kiểm soát được việc đi tiểu ;
- Tiểu gấp: Són tiểu ra quần ngay khi mắc tiểu;
- Tiểu nhiều lần: Trên 1 lần mỗi giờ;
- Tiểu ít lần: Dưới 3 lần mỗi ngày.
Có 3 nguyên nhân chính gây rối loạn chức năng tiểu tiện:
- Có những bất thường về cấu trúc đường niệu;
- Có những bất thường về thần kinh kiểm soát việc tiểu tiện;
- Rối loạn đi tiểu mà không rõ nguyên nhân.
Tình trạng rối loạn tiểu tiện có thể chỉ ảnh hưởng tới vấn đề sinh hoạt của bệnh nhân nhưng cũng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hơn như: Gây nhiễm trùng tiểu tái phát, viêm đài bể thận cấp, thận ứ nước, trào ngược bàng quang - niệu quản,... Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, rối loạn đường tiểu có thể dẫn tới suy thận.
2. Ứng dụng đo niệu động học trong chẩn đoán rối loạn đường tiểu
2.1 Đo niệu động học là gì?
Niệu động học là một xét nghiệm cận lâm sàng được ứng dụng trong tiết niệu. Phương pháp này đánh giá chức năng chứa đựng và tống xuất nước tiểu của bàng quang, niệu đạo và hoạt động của cơ thắt cổ bàng quang.
Niệu động học bao gồm nhiều phép đo khác nhau, giúp đánh giá các chức năng khác nhau trong việc đi tiểu. Sau khi, tổng hợp kết quả của các phép đo này, bác sĩ sẽ xác định được nguyên nhân gây rối loạn tiểu tiện.
2.2 Các phép đo niệu động học
2.2.1 Áp lực đồ bàng quang
Khảo sát tự thay đổi áp lực bên trong bàng quang theo dung tích bàng quang. Áp lực bàng quang được theo dõi ở thời điểm bàng quang được đổ đầy thụ động và thời điểm bàng quang co bóp chủ động. Khi đo, bác sĩ ghi nhận cảm giác mắc tiểu, độ dốc của đường biểu diễn ở thời điểm đổ đầy và co bóp của cơ chóp bàng quang;
2.2.2 Điện cơ đồ
Khi sử dụng phép đo này, người ta dán các bản điện cực lên vùng tầng sinh môn hoặc cắm các điện cực vào nhóm cơ vùng đáy chậu nhằm ghi nhận hoạt động của cơ thắt vân niệu đạo. Điện cơ đồ cung cấp những thông tin về hoạt động của cơ thắt trơn, có giá trị nếu phối hợp với phép đo áp lực đồ bàng quang;
2.2.3 Áp lực niệu đạo
Khi thực hiện, bác sĩ đưa một ống thông nhỏ có lỗ bên vào bàng quang, truyền vào đó một lượng nước theo chỉ định. Sau đó rút ống ra từ từ. Áp lực niệu đạo khác nhau tùy thuộc vị trí niệu đạo và được ghi lại bằng các giá trị thay đổi trên biểu đồ khi rút ống thông niệu ra;
2.2.4 Niệu dòng đồ
Là phép đo niệu động học duy nhất không xâm nhập. Cách đo: Bệnh nhân đi tiểu vào phễu hứng của máy đo, máy sẽ chuyển trọng lượng nước tiểu thành dung tích, ghi lại thành biểu đồ với tốc độ ml/giây. Kết quả niệu dòng đồ được dùng để đánh giá chức năng đường tiểu dưới một cách nhanh chóng.
2.3 Quy trình đo niệu động học
Các bước đo niệu động học bao gồm:
- Cho bệnh nhân đi tiểu vào phễu hứng của máy đo để đo lượng nước tiểu và tốc độ dòng tiểu. Ngay sau khi người bệnh tiểu xong, bác sĩ đặt ống thông tiểu nhằm đánh giá lượng nước tiểu tồn đọng trong bàng quang;
- Cho bệnh nhân nằm lên giường, thực hiện đặt một ống thông nhỏ vào đường tiểu, bơm một lượng nước xác định vào bàng quang. Việc này nhằm đánh giá áp lực bàng quang và tình trạng co giãn của bàng quang. Người bệnh có thể được hỏi về cảm giác mắc tiểu hoặc yêu cầu ho, rặn để đánh giá mức áp lực gây rỉ nước tiểu;
- Đo áp lực ổ bụng bằng cách đặt một ống thông vào hậu môn. Phương pháp này cũng giúp đánh giá gián tiếp áp lực cơ bàng quang;
- Rút ống thông tiểu và ống thông hậu môn từ từ để đo áp lực niệu đạo. Nếu chưa tiểu vào phễu hứng trước đó, bệnh nhân sẽ được yêu cầu tiểu vào để đo dòng nước tiểu.
Lưu ý: Một số ít trường hợp sau khi đo niệu động học có thể có tiểu máu (nước tiểu màu hồng). Tuy nhiên, triệu chứng này có thể hết trong vòng vài ngày, người thân cần chú ý cho bệnh nhân uống nhiều nước là được. Trường hợp triệu chứng tiểu ra máu ngày càng nặng hơn, bệnh nhân có triệu chứng sốt, đau bụng hoặc lạnh run thì nên đến bệnh viện để được kiểm tra, xử trí.
Rối loạn đường tiểu là vấn đề thường gặp, gây ảnh hưởng tới chất lượng sống của bệnh nhân hoặc thậm chí dẫn tới nhiều hậu quả nghiêm trọng. Bệnh nhân thường được chỉ định đo niệu động học để thăm khám, chẩn đoán chính xác vấn đề trên hệ tiết niệu để có hướng điều trị kịp thời, phù hợp.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Y học tái tạo đang thu hút sự chú ý trong cộng đồng Y khoa Quốc tế với việc nghiên cứu về khả năng tự chữa lành và tái tạo của cơ thể con người. Một phương pháp tiên tiến là sử dụng chất tiết tế bào gốc Exosomes, giúp hỗ trợ quá trình lành và tái tạo cơ thể.
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn tiêu hoá gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón. Nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng này vẫn chưa được xác định nhưng các tác nhân kích hoạt triệu chứng gồm có mốt số loại thực phẩm, đồ uống và stress.





