Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập146
  • Máy chủ tìm kiếm75
  • Khách viếng thăm71
  • Hôm nay3,773
  • Tháng hiện tại1,880,923
  • Tổng lượt truy cập39,308,545

Tổng quan về hội chứng ruột kích thích (IBS)- Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

I. Sinh bệnh học

A. Biến đổi nhu động ruột bao gồm các sai biệt trong nhu động của ruột non và đại tràng

  • Hoạt động điện cơ của đại tràng bao gồm những sóng chậm nền tảng kết hợp với các sóng nhọn chồng lên. Rối loạn nhu động đại tràng trong HCRKT biểu hiện bởi các biến đổi trong tần số sóng chậm và một sóng nhọn cuối đỉnh, phản ứng sau khi ăn. Bệnh nhân thể tiêu chảy (IBS-D) có sự chênh lệch này ở mức độ cao hơn so với bệnh nhân thể táo bón (IBS-C).
  • Rối loạn nhu động ruột non biểu hiện bằng sự di chuyển thức ăn chậm hơn ở những bệnh nhân IBS-C và di chuyển thức ăn nhanh hơn ở những bệnh nhân IBS-D.
  • Lý thuyết hiện tại tích hợp các thay đổi lan toả về nhu động và đưa ra giả thuyết về tính tăng đáp ứng tổng thể của hệ cơ trơn. Các chuyên gia mô tả thêm các triệu chứng của hệ tiết niệu, bao gồm tiểu lắt nhắt, tiểu són, tiểu đêm và tính tăng đáp ứng với thử nghiệm methacholine.

B. Tăng nhạy cảm nội tạng là yếu tố thứ hai của phức hợp 3 yếu tố kinh điển đặc trưng cho hội chứng ruột kích thích.

  • Tăng cường cảm nhận về nhu động ruột bình thường và cảm giác đau nội tạng là đặc trưng của hội chứng ruột kích thích. Cơn đau ở mức độ nhẹ gặp nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân HCRKT so với nhóm đối chứng sau khi bơm căng đại tràng sigmoid và ruột non. Đáng chú ý là cảm giác đau này rõ rệt hơn khi bơm căng ruột đột ngột so với bơm căng từ từ.
  • Bệnh nhân mô tả đau lan rộng hơn so với những khoanh da (dermatomes) tương ứng.
  • Tăng nhạy cảm của các chùm thần kinh cảm giác ở đường ruột hướng tâm kết nối tại các synáp thần kinh trong sừng lưng của tủy sống theo một cơ chế thống nhất.

C. Khía cạnh thứ ba: Yếu tố tâm lý

  • Mối liên quan sinh bệnh học giữa rối loạn tâm thần và hội chứng ruột kích thích chưa được xác định rõ ràng.
  • Những bệnh nhân có rối loạn tâm lý thường bị HCRKT thường xuyên và ở mức độ nặng hơn so với nhóm dân số đối chứng.
  • Bệnh nhân HCRKT thường có tỷ lệ mắc các chứng rối loạn hoảng sợ, trầm cảm nặng, rối loạn lo âu, và hoang tưởng nghi bệnh nhiều hơn so với nhóm dân số đối chứng.
  • Đã chứng minh được rằng bệnh nhân HCRKT chiếm tỷ lệ bị lạm dụng về thể chất và tình dục cao hơn
  • Bệnh tâm thần có thúc đẩy sự phát triển của hội chứng ruột kích thích hoặc ngược lại hay không vẫn chưa được xác định rõ ràng.
  • Viêm ở dạng vi thể đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân. Khái niệm này là đột phá vì trước đây HCRKT được xem là không có sự thay đổi nào về mặt giải phẫu bệnh.
  • Viêm đại tràng, viêm ruột non đã được phát hiện ở một số ít bệnh nhân HCRKT và những bệnh nhân khởi phát HCRKT sau nhiễm trùng đường ruột (hội chứng ruột kích thích sau nhiễm trùng). Các yếu tố nguy cơ phát sinh HCRKT sau nhiễm trùng bao gồm: giới tính nữ, thời gian mắc bệnh kéo dài hơn, loại mầm bệnh có liên quan, không bị nôn trong thời gian bị bệnh nhiễm trùng và trẻ tuổi.
  • Bệnh nhân HCRKT sau nhiễm trùng có tăng số lượng tế bào lympho niêm mạc đại tràng và tế bào nội tiết ruột (enteroendocrine cells).
  • Tế bào nội tiết ruột trong HCRKT xuất hiện sau nhiễm trùng tiết serotonin ở mức độ cao, làm tăng bài tiết ruột có thể dẫn đến tiêu chảy.
  • Sự phát triển quá mức của vi khuẩn ở ruột non đã được báo trước như là cơ chế của các triệu chứng đầy hơi và trướng bụng phổ biến ở bệnh nhân HCRKT. Điều này đã dẫn đến việc đề xuất phương pháp điều trị với kháng sinh và men vi sinh.
  • Vi sinh vật trong phân cũng khác nhau giữa bệnh nhân HCRKT so với nhóm chứng. Một phân tích chuyên sâu về phân tử đã cho thấy có sự thay đổi trong các mẫu và bản chất vi khuẩn trong ruột của người bệnh HCRKT. 

II. Tần số

  • Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu dựa trên dân số ước tính tỷ lệ mắc HCRKT vào khoảng 10-20% và xuất độ (incidence) khoảng 1-2%/năm. Trong số những bệnh nhân HCRKT, khoảng 10-20% sẽ cần đến chăm sóc y tế.
  • Ước tính 20-50% số bệnh nhân đến khám chuyên khoa tiêu hóa có liên quan đến bệnh lý phức tạp này.

III. Tỷ lệ tử vong/ Bệnh trạng

  • Hội chứng ruột kích thích là một tình trạng mạn tính, hay tái phát. Thầy thuốc lâm sàng cần giải thích cặn kẽ cho bệnh nhân vì kiến thức y khoa có thể giúp họ bớt nỗi sợ hãi quá mức khi bệnh cứ tái đi tái lại. Hội chứng ruột kích thích không làm tăng tỉ lệ tử vong hoặc nguy cơ mắc viêm loét hoặc ung thư đại tràng.
  • Bệnh trạng chủ yếu của hội chứng ruột kích thích bao gồm đau bụng và thay đổi lối sống, hậu quả của thay đổi thói quen đi tiêu.
  • Bệnh nhân HCRKT thường xuyên nghỉ việc và hay bị giảm lương hơn.

IV. Chủng tộc

  • Tại Mỹ và châu Âu, tần số HCRKT bằng nhau giữa các chủng tộc và sắc tộc. Tuy nhiên, tại Mỹ, bảng câu hỏi điều tra cho thấy tỷ lệ HCRKT thấp hơn ở người gốc Tây Ban Nha tại Texas và người châu Á tại California.
  • Tỷ lệ HCRKT có thể thấp hơn ở người dân châu Á và châu Phi.
  • Không thấy có sự khác biệt rõ nét về ảnh hưởng của các nền văn hóa và cách thức chăm sóc sức khỏe trên tỷ lệ mắc HCRKT.

V. Lâm sàng

1. Bệnh sử

Thay đổi thói quen đi tiêu

  • Táo bón khiến phân cứng và nhỏ, đại tiện đau, không giảm khi dùng thuốc nhuận trường.
  • Tiêu chảy, phân lỏng, ít, mót đi tiêu, tiêu són, tiêu nhiều lần.
  • Mót đi tiêu sau khi ăn
  • Tiêu bón và tiêu chảy xen kẽ, thường có một thể chiếm ưu thế, nhưng cũng có thay đổi đáng kể ở từng bệnh nhân.

Đau bụng

  • Thường đa dạng và lan toả. Các vị trí đau thường gặp là vùng bụng dưới, cụ thể là ở góc phần tư dưới trái.
  • Những cơn đau cấp tính xảy ra trên nền đau âm ỉ thường xuyên.
  • Ăn có thể khởi phát cơn đau. Đi tiêu có thể giảm bớt cơn đau, tuy không hoàn toàn.
  • Đau được xem là từ túi hơi ở góc lách có thể gây nhầm lẫn với đau ở vùng trước ngực và đau vùng góc tư bụng trên trái. Cần chú ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý có biểu hiện đau trước ngực hoặc đau góc tư bụng trên trái.

Trướng bụng 

  • Bệnh nhân thường xuyên than phiền đầy hơi trướng bụng. Tuy nhiên các đo lường định lượng lại không hỗ trợ chứng cứ cho điều này.
  • Bệnh nhân hội chứng ruột kích thích có thể biểu hiện gia tăng vòng bụng suốt ngày theo đánh giá của CT scan. Họ cũng thường khó chịu đựng các tình trạng trướng bụng bất thường.

2. Khám thực thể

  • Thể trạng khỏe mạnh.
  • Có thể có vẻ mặt căng thẳng hoặc lo lắng.
  • Có thể có đau khi ấn vùng đại tràng sigmoid hoặc sờ thấy thừng sigmoid.

VI. Nguyên nhân

  • Bất thường trong di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá và tăng cảm nhận về nhu động bình thường của ruột.
  • Một phần ba số bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích có thể có thay đổi vận tốc di chuyển của thức ăn qua đại tràng. Nhu động ruột chậm trễ xảy ra ở bệnh nhân HCRKT thể táo bón (IBS-C) thường xuyên hơn so với người khỏe mạnh. Tương tự, tăng vận tốc nhu động ruột xảy ra ở bệnh nhân HCRKT thể tiêu lỏng (IBS-D) thường xuyên hơn so với người khỏe mạnh. 
  • Nhạy cảm tại chỗ với histamin của các tế bào thần kinh hướng tâm có thể gây ra sự khử cực sớm.
  • Nguyên nhân liên quan đến nhiễm trùng đường ruột (xin xem lại phần sinh bệnh học)
  • Các cơ đại tràng phản ứng quá mức, thay đổi miễn dịch và thần kinh ở đại tràng, ruột non có thể kéo dài sau viêm dạ dày ruột.
  • Các bệnh tâm lý đi kèm khiến bệnh nhân dễ mắc HCRKT sau nhiễm trùng.
  • Các bệnh tâm lý có thể tạo ra một môi trường cytokine tiền viêm, dẫn đến hội chứng ruột kích thích sau nhiễm trùng cấp tính qua một cơ chế chưa được xác định.

VII. Chẩn đoán phân biệt

 

  • Đau thắt bụng (abdominal angina)
  • Suy giáp
  • Rối loạn lo âu
  • Vi khuẩn phát triển quá mức
  • Không dung nạp lactose
  • Co thắt đường mật
  • U ác tính ở ruột non
  • Nghẽn động mạch mạc treo ruột
  • Bệnh Celiac
  • Nghẽn tĩnh mạch mạc treo ruột
  • Thiếu máu cục bộ mạc treo ruột mạn
  • Ung thư tuyến tụy
  • Viêm đại tràng tế bào lymphô và collagen
  • Viêm tụy mạn
  • Pheochromocytoma
  • Lạc nội mạc tửi cung
  • Porphyria cấp tính
  • Dị ứng thực phẩm
  • Hội chứng sau cắt túi mật
  • Viêm dạ dày ruột do vi khuẩn
  • Viêm dạ dày ruột do virus
  • U somatostatin
  • Nhiễm chì
  • Viêm loét đại tràng

VIII. Điều trị

A. Chăm sóc y tế

  • Thành công trong điều trị dựa trên mối quan hệ chặt chẽ giữa thầy thuốc và bệnh nhân.
  • Trấn an bệnh nhân rằng nếu không có tổn thương thực thể thì tuổi thọ của bệnh nhân HCRKT sẽ là bình thường.
  • Nhấn mạnh về tính chất mạn tính của các triệu chứng với những đợt cấp định kỳ.
  • Hướng dẫn cho bệnh nhân biết cách xác định những yếu tố gây căng thẳng và các kỹ thuật phòng tránh chúng.

B. Chế độ ăn uống

  • Bổ sung chất xơ có thể cải thiện triệu chứng táo bón và tiêu chảy. Tuy nhiên, bệnh nhân ít kinh nghiệm có thể khiến tình trạng trướng bụng đầy hơi thêm trầm trọng với chế độ ăn nhiều chất xơ. Hợp chất polycarbophil (Citrucel, FiberCon) có thể ít gây đầy hơi hơn so với các hợp chất psyllium (như Metamucil).
  • Các dữ liệu về hiệu quả của chất xơ còn gây tranh cãi vì 40-70% bệnh nhân vẫn được cải thiện với giả dược.
  • Khuyến khích uống nước hợp lý ở những bệnh nhân HCRKT thể táo bón.
  • Tránh dùng caffeine có thể giúp hạn chế lo âu, giảm độ trầm trọng của các triệu chứng.
  • Giảm bớt rau củ quả có thể giúp giảm đầy hơi trướng bụng.
  • Nên hạn chế hoặc tránh lactose và/hoặc fructose ở bệnh nhân có các rối loạn này. Chú ý bổ sung canxi ở những bệnh nhân cần hạn chế sử dụng đường lactose.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây