Tổn thương cơ bản trong viêm kết mạc - bệnh viện 103
1. Đại cương
Kết mạc là một màng mỏng, trong, bóng che phủ toàn bộ bề mặt nhãn cầu và mặt trong mi mắt, đảm bảo cho mi mắt không dính chặt vào nhãn cầu và có thể trượt dễ dàng trên bề mặt nhãn cầu mà không gây tổn thương cho giác mạc. Về đại thể, kết mạc chia làm 3 phần:
- Kết mạc mi tiếp nối ở phía trước với bờ tự do của mi mắt và che phủ bề mặt sụn mi;
- Kết mạc cùng đồ tiếp nối từ phần sau của kết mạc mi (từ bờ trên sụn mi trên và bờ dưới của sụn mi dưới) quặt ra sau và tạo túi cùng kết mạc;
- Kết mạc nhãn cầu bao gồm phần kết mạc che phủ bề mặt nhãn cầu tiếp nối từ dưới cùng đồ đến sát rìa giác mạc.
Về mô học, kết mạc bao gồm:
Biểu mô kết mạc gồm 2 đến 5 hàng tế bào. Lớp đáy là những tế bào hình trụ và mỏng dần khi lên phía bề mặt. Trong trường hợp bệnh lý khô mắt hay tổn thương của mi làm cho kết mạc bị bộc lộ kéo dài, lớp biểu mô sẽ bị sừng hoá.
Nhu mô kết mạc là một tổ chức đệm chứa nhiều mạch máu tách biệt với biểu mô kết mạc bằng một lớp màng cơ bản. Trong lớp nhu mô kết mạc có chứa tổ chức bạch huyết, nhưng trong vòng 3 tháng sau khi sinh, tổ chức này chưa phát triển nên ở trẻ dưới 3 tháng tuổi không bao giờ xuất hiện phản ứng hột lympho ở kết mạc. Nằm sâu nhất là lớp tổ chức xơ, cùng bình diện với bề mặt sụn mi, vì vậy kết mạc sụn mi không có tổ chức xơ này. Đặc biệt trong nhu mô kết mạc có chứa nhiều tuyến lệ phụ như tuyến Krause ở túi cùng kết mạc, tuyến Wolfring ở rìa sụn mi trên và túi cùng kết mạc (thuộc loại tuyến nang có ống)…, các tuyến chế nhày (gồm các tế bào chế nhày, tuyến Henle và tuyến Manz). Nước mắt được chế tiết từ các tuyến này có vai trò quan trọng trong việc tạo thành lớp film nước mắt bảo vệ bề mặt nhãn cầu. (xem trong chương giải phẫu và sinh lý nhãn cầu)
2. Tổn thương cơ bản trong viêm kết mạc
2.1. Xuất tiết:
Là dịch rỉ từ những mạch máu dãn, cương tụ ra ngoài qua biểu mô kết mạc. Đặc điểm của chất xuất tiết khác nhau tùy theo nguyên nhân gây viêm:
- Xuất tiết loãng (dạng nước) chứa thanh dịch và nước mắt phản xạ, thường hơi dính và đặc trưng cho các viêm kết mạc dị ứng hoặc viêm do virus cấp.
- Xuất tiết dạng nhày dính là dạng tiết dịch đặc trưng cho viêm mùa xuân và viêm kết giác mạc khô (keratoconjunctivitis sicca) do trong dịch tiết có chứa mucopolysaccaride nên chất tiết có tính keo dính, đàn hồi.
- Xuất tiết dạng mủ cấp: chất tiết là một thứ mủ vàng hoặc trắng vàng, loãng, tái tạo rất nhanh sau khi lau sạch và đặc trưng cho viêm kết mạc do vi khuẩn cấp tính.
- Xuất tiết dạng mủ nhày thường xuất hiện trong các viêm kết mạc mạn tính nhẹ hoặc bệnh mắt hột.
2.2. Thẩm lậu (thâm nhiễm) kết mạc:
Xuất hiện trong các viêm nhiễm kết mạc nói chung nhưng không đặc trưng cho một nguyên nhân nào. Kết mạc mất độ trong bóng bình thường, trở nên dày và đỏ, đặc biệt ở vùng cùng đồ (Hình 1).
2.3. Nhú gai
- Là phản ứng tạo nhú trong những trường hợp viêm nhiễm kết mạc nói chung, ít có tính đặc hiệu(Hình 2). Nhú chỉ có thể xuất hiện ở kết mạc sụn mi, kết mạc nhãn cầu vùng rìa là những nơi biểu mô kết mạc tiếp giáp phía dưới với tổ chức có tính chất xơ (như sụn mi hoặc tổ chức củng mạc rìa). Cấu trúc của nhú gai bao gồm trục mạch máu ở giữa, toả lan xung quanh là thâm nhiễm các tế bào viêm mạn tính như lympho bào, tương bào và bạch cầu ái toan.
- Khi quá trình viêm kéo dài, các nhú gai có thể nhập lại với nhau tạo nhú khổng lồ như trong viêm mùa xuân hoặc trên bệnh nhân đeo kính tiếp xúc.
- Khi đó nhú sẽ bao gồm trục xơ- mạch ở giữa đội biểu mô kết mạc cao lên và bao quanh là thẩm lậu tế bào viêm mạn tính. Nhú kết mạc có thể gặp trong các bệnh như: viêm bờ mi mạn tính, viêm kết mạc dị ứng, viêm kết mạc do vi khuẩn, phản ứng với kính tiếp xúc…
- Đôi khi trên kết mạc vùng sát bờ trên sụn mi trên có thể xuất hiện hình ảnh giống hệt nhú hoặc hột nhưng kết mạc vùng trên sụn và bờ trên sụn hoàn toàn bình thường thì đó không được coi là dấu hiệu bệnh lý.
2.4. Hột
- Là phản ứng bệnh lý rất quan trọng trong một số loại viêm kết mạc.Về cấu trúc, hột là sự quá sản của tổ chức lympho trong nhu mô kết mạc. Hột thường xuất hiện trước tiên ở kết mạc cùng đồ với kích thước rất khác nhau tùy theo độ nặng và kéo dài của bệnh (từ 0,5mm đến 5mm), mỗi hột đều có mạch máu bò trên mặt (về cơ bản khác với nhú có trục mạch nằm ở trung tâm).
- Trong trường hợp bệnh cấp tính, nặng hoặc kéo dài, hột tăng kích thước, các mạch máu bị đẩy dạt ra ngoại vi hột và hình thành vành đai bao quanh chu vi hột. Các nguyên nhân gây ra hột thường là: bệnh mắt hột, viêm kết mạc lây theo đường sinh dục do Chlamydia, viêm kết mạc do virus (nhất là trường hợp viêm cấp thành dịch), dị ứng thuốc có tính chất mạn tính…
- Phản ứng hột do viêm thường mất dần đi sau khi quá trình viêm được điều trị khỏi mà không để lại di chứng, trừ trường hợp để lại sẹo trên kết mạc trong bệnh mắt hột kéo dài
2.5. Sẹo
- Là hiện tượng xơ trên kết mạc, có thể xuất hiện sau chấn thương, sau quá trình bệnh lý gây hủy hoại lớp nhu mô kết mạc. Biểu hiện của sẹo trên lâm sàng là những vệt xơ màu trắng đan nhau trên nền kết mạc hồng hoặc đỏ tùy theo tình trạng viêm của kết mạc.
- Sẹo do chấn thương thường gọn và không gây co kéo, khác với sẹo trong những trường hợp bệnh lý có phá hủy cấu trúc như mắt hột kéo dài do tái nhiễm nhiều lần, viêm mùa xuân nặng, viêm kết-giác mạc khô, hội chứng Stevens-Johnson….
- Tuy nhiên trong những bệnh này hình thái của sẹo cũng khác nhau. ở giai đoạn sớm chỉ có hiện tượng xơ bề mặt nhu mô kết mạc và cạn cùng đồ. Khi sẹo co kéo và dúm kết mạc nhiều sẽ gây những di chứng nặng nề như quặm, lông xiêu, nặng hơn nữa sẽ gây dính mi- cầu làm giảm thị lực nhiều khi trầm trọng, dẫn đến mù lòa.
2.6. Màng tơ huyết
- Là lớp màng fibrin bám trên mặt biểu mô kết mạc, trên lâm sàng biểu hiện bởi một lớp màng trắng hoặc vàng, đôi khi rất dày, che lấp bề mặt biểu mô kết mạc và tái tạo rất nhanh sau khi bóc.
- Có hai loại màng: màng thật (khi bóc sẽ bị chảy máu) và màng giả (có thể bóc một cách dễ dàng). Màng fibrin có thể xuất hiện trong một số trường hợp viêm kết mạc cấp do bạch hầu, liên cầu tan máu, adenovirus….
- Việc xuất hiện lớp màng này sẽ cản trở thuốc tra vào biểu mô kết mạc do đó cần bóc màng fibrin hàng ngày đến khi không tái tạo lại nữa (trong trường hợp màng giả có thể bóc bỏ dễ dàng).
2.7. U hạt (granuloma)
Là sự tăng sinh của tổ chức hạt trong các viêm kết mạc có tính đặc hiệu như Sarcoidosis, lao, giang mai hoặc dị vật lưu trong kết mạc (Hình 7).
2.8. Phù kết mạc (chemosis):
Xuất hiện khi có viêm nhiễm nặng ở kết mạc hoặc đôi khi là biểu hiện gián tiếp của viêm nhiễm trong hốc mắt hoặc nội nhãn. Phù kết mạc là do tích tụ của dịch rỉ viêm chứa fibrin và protein thoát ra từ thành mạch bị tổn thương gây sưng nề kết mạc, nhiều khi lòi ra ngoài khe mi làm mi không nhắm kín.
Nguồn: Bệnh viện 103
Bong võng mạc xảy ra khi võng mạc tách khỏi phía sau của mắt. Điều này dẫn đến mất thị lực một phần hoặc hoàn toàn, tùy thuộc vào mức độ bong ra của võng mạc.





