Tìm hiểu về siêu âm tim stress
1. Siêu âm tim stress là gì?
Siêu âm tim stress hay còn gọi là siêu âm tim gắng sức, là một thăm dò không chảy máu, phương pháp này dùng để khảo sát vận động thành thất trong các thời kỳ nghỉ và khi gây stress đối với cơ tim, mục đích là để đánh giá chức năng tưới máu của động mạch vành hoặc sức co của cơ thất trái.
Hiện có 3 cách tiến hành siêu âm tim stress như sau:
- Siêu âm bằng gắng sức thể lực: Nếu sử dụng phương pháp này sẽ không phải dùng thuốc nên không bị tác dụng phụ, vì thế khá an toàn. Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp này, việc đánh giá khó khăn hơn vì thường không theo dõi siêu âm tim được liên tục, bởi chỉ thực hiện được ở giai đoạn đầu của gắng sức và giai đoạn hồi phục.
- Siêu âm gắng sức bằng thuốc: Thông thường, thuốc thường được chỉ định trong siêu âm gắng sức bằng thuốc là Dobutamin, Dipyridamole, Adenosine... Đây là phương pháp thường được sử dụng nhất vì thuận tiện cho việc siêu âm và bác sĩ có thể chủ động trong quá trình kiểm tra.
- Kích thích nhĩ qua thực quản, hoặc tạo nhịp: Phương pháp này hiện ít dùng trong lâm sàng.
2. Chỉ định và chống chỉ định trong siêu âm tim stress
Chỉ định siêu âm tim stress trong trường hợp:
- Bao gồm các chỉ định chung cho siêu âm tim stress như siêu âm tim gắng sức bằng thể lực, siêu âm Dobutamine. Nhưng siêu âm Dobutamine được chỉ định khi người bệnh không có khả năng dùng thể lực.
- Người bệnh bị đau thắt ngực dùng phương pháp siêu âm tim stress chẩn đoán xác định, đánh giá mức độ
- Bệnh tim thiếu máu cục bộ, thiếu máu cơ tim thầm lặng
- Sau nhồi máu cơ tim > 7 ngày nhằm xác định được tình trạng cơ tim như sẹo nhồi máu, thiếu máu cơ tim, nguy cơ tái phát bệnh.
- Theo dõi ở người bệnh sau nong hoặc làm cầu nối động mạch vành
- Theo dõi hiệu quả điều trị nội khoa và khả năng tái thích nghi, lao động
- Sử dụng phương pháp siêu âm tim stress để đánh giá chức năng thất trái trong bệnh cơ tim
- Đánh giá mức độ của bệnh và chức năng cơ tim trong bệnh van tim
Chống chỉ định siêu âm tim stress trong trường hợp:
- Nhồi máu cơ tim < 7 ngày
- Đau thắt ngực trong 24 giờ qua và thuộc thể không ổn định
- Hẹp thân chính của động mạch vành trái, viêm màng tim cấp, viêm cơ tim
- Loạn nhịp nhanh gồm nhĩ và thất, bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn
- Ngoại tâm thu thất nhiều ổ hoặc chùm, Block nhĩ thất cấp độ II và cấp độ III, nhịp tim chậm < 45/phút khi nghỉ ngơi.
- Suy tim theo chức năng của Hội Tim mạch New York (NYHA) 4
- Hẹp chủ khi có tiền sử ngất xỉu
- Tăng huyết áp nặng khi nghỉ: huyết áp tâm thu > 200 và huyết áp tăng trương > 110 mmn
- Người bệnh mang máy tạo nhịp, có bệnh thực thể nặng (như nhiễm khuẩn, thiếu máu...) và ngộ độc thuốc.
Ưu điểm của phương pháp này là giúp chẩn đoán bệnh khi người bệnh không có khả năng gắng sức bằng thể lực và người bệnh có điện tâm đồ khi nghỉ bất thường, đánh giá được EF và rối loạn vận động vùng mới ở bệnh nhân tiền sử nhồi máu cơ tim. Ngoài ra, siêu âm tim stress có thể phối hợp với siêu âm tim cản âm đánh giá tình trạng tưới máu cơ tim và siêu âm Doppler mô.
Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là hoàn toàn phụ thuộc kinh nghiệm của người làm cũng như giá trị chẩn đoán phụ thuộc chất lượng hình ảnh số hoá; hạn chế nếu bệnh nhân có rối loạn vận động vùng rộng ở siêu âm tim khi nghỉ và người bệnh nhiều thân động mạch vành; các thuốc giãn mạch chống chỉ định và bị ị ảnh hưởng bởi thuốc bệnh nhân đang điều trị.
3. Các bước tiến hành siêu âm tim stress
Bước 1: Chuẩn bị máy siêu âm có chương trình vi tính chuyên dụng cho siêu âm tim stress và ghi hình trên đĩa quang từ - MOD; máy ghi điện tâm đồ 6 chuyển đạo và các thiết bị cấp cứu tim - phổi, oxy
Bước 2: Chuẩn bị các thuốc: Dobutamine, Atropine, dịch đẳng trương, Nitroglycerine spray, thuốc chẹn beta tiêm tĩnh mạch, thuốc chẹn calci tiêm tĩnh mạch (Diltiazem, verapamil)
Bước 3: Yêu cầu người bệnh ngừng thuốc chẹn beta trong 24h trước khi làm thủ thuật nếu lâm sàng cho phép và đảm bảo. Đối với người bệnh đái tháo đường thì không dùng insulin bình thường mà chỉ dùng insulin chậm và giảm 1/2 liều. Đồng thời, không ăn trong 2 giờ trước khi siêu âm tim stress.
Bước 4: Đo huyết áp cho người bệnh, ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo và xác định liều Dobutamine, tần số tim cần đạt.
Bước 5: Làm siêu âm khi nghỉ theo quy trình 4 thiết đồ cơ bản. Đặt đường truyền tĩnh mạch qua kim luồn và bắt đầu truyền Dobutamine với liều 10 mg/kg/phút nếu siêu âm khi nghỉ là bình thường, 5 mg/kg/phút nếu siêu âm khi nghỉ bất thường. Trong 3 phút lại tăng liều truyền lên 1 mức.
Bước 6: Đầu phút thứ 3 ở mỗi mức liều, bác sĩ siêu âm sẽ cần phải ghi hình ảnh siêu âm theo quy trình 4 thiết đồ, đo huyết áp và điện tâm đồ 12 chuyển đạo.
Bước 7: Tiêm tĩnh mạch 0,25 - 0,5 mg Atropine trong trường hợp không có chống chỉ định khi tần số tim còn cách tần số đích > 20 ck/ phút hoặc cho người bệnh dùng 2 tay bóp 2 quả bóng nhỏ để cường giao cảm, tăng nhịp tim. Khi đạt được tần số đích thì ghi Siêu âm, điện tâm đồ, huyết áp và ngừng truyền Dopamine.
Bước 8: Ở giai đoạn bình phục, đo huyết áp, ghi điện tâm đồ 12 chuyển đạo 2 phút/lần. Sau đó, cần phải ghi hình ảnh siêu âm theo quy trình 3 phút/lần cho đến khi nhịp tim của người bệnh gần trở về mức khi nghỉ và khi những thay đổi trên điện tâm đồ và siêu âm chưa trở lại như khi nghỉ.
Bước 9: Bác sĩ sẽ đánh giá các hình ảnh siêu âm và kết luận về những rối loạn vận động thành tim.
Trong quá trình siêu âm tim gắng sức, khi thấy người bệnh đau thắt ngực rõ, không thể tiếp tục do khó thở, mệt hoặc có cảm giác sẽ ngất, có dấu hiệu co thắt mạch, tụt huyết áp, đau ngực, thay đổi điện tâm đồ hoặc hạ huyết áp, xuất hiện rung nhĩ hoặc cơn nhịp nhanh trên thất, block dẫn truyền, nhồi máu cơ tim,... thì ngưng thủ thuật.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Thèm nhai đá có thể là do nhiều nguyên nhân nhưng hai nguyên nhân phổ biến nhất là thiếu máu do thiếu sắt và hội chứng pica.
Sắt là một khoáng chất cần thiết trong cơ thể con người. Sắt tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu – các tế bào máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Nồng độ sắt thấp hay thiếu sắt sẽ gây mệt mỏi và làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ sắt quá cao?





