Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập189
  • Máy chủ tìm kiếm107
  • Khách viếng thăm82
  • Hôm nay1,124
  • Tháng hiện tại1,878,274
  • Tổng lượt truy cập39,305,896

Thông xoang mũi - bệnh viện 103

I. Đại c­ương:

 Là biện pháp cho phép ng­ời thầy thuốc chẩn đoán bệnh lý xoang hàm, ngoài các ph­ơng pháp soi bóng mờ và chụp X-quang. Đồng thời giúp điều trị viêm xoang hàm.

1. Mục đích:

  • Để xem trong xoang hàm có mủ hay không? Nếu có mủ cho thử kháng sinh đồ, cấy khuẩn. Nếu không có mủ cho xét nghiệm tế bào.
  • Bơm thuốc cản quang vào xoang để chụp phát hiện các khối u trong xoang và thể viêm dày niêm mạc xoang.

2. Chỉ định:

  • Nghi trong xoang hàm có mủ và chắc chắn có mủ. Nghi trong xoang có khối u, khối polype hay nang dịch.
  • Bơm thuốc kháng sinh vào xoang trong điều trị viêm xoang hàm.
  • Bơm thuốc cản quang vào trong xoang hàm để chụp X-quang chẩn đoán.

3. Chống chỉ định:

  • Viêm xoang hàm cấp tính hay đang có đợt nhiễm khuẩn cấp tính.
  • Mắc các bệnh mạn tính ch­a ổn định.
  • Phụ nữ có thai.
  • Trong vụ dịnh sốt xuất huyết.
  • Trẻ em d­ưới 5 tuổi.

4. Nguyên tắc:

  • Chọc chỗ thấp nhất của vách mũi, xoang.
  • Phải có lỗ dẫn l­ưu, không chọc khi có thoái hoá cuốn giữa hay có polype che kín khe mũi giữa lấp mất lỗ dẫn l­ưu.

II. Kỹ thuật:

1. Chuẩn bị dụng cụ – thuốc:

  • Đèn clar hoặc g­ương trán.
  • Kim chọc xoang thẳng hoặc cong.
  • Banh mở mũi.
  • Vòi cao su nối liền kim chọc xoang với bơm tiêm 50 ml.
  • Que tăm  bông và kẹp khuỷu.
  • Khay quả đậu, ni lông choàng.
  • Nư­ớc muối (Natri clorua 9%0), thuốc tê: Lidocain hoặc Xylocain…

2. Tư­ thế bệnh nhân- thầy thuốc:

  • Bệnh nhân ngồi ghế đối diện với thầy thuốc, quàng ni lông.
  • Chọc bên nào của bệnh nhân, thì tay đối diện của phẫu thuật viên cầm mở mũi, còn tay kia cầm kim.

3. Gây tê: 

Dùng que tăm bông vê bông tẩm thuốc Napthasolin + Lidocain đặt vào khe mũi d­ưới, d­ưới nếp gấp của xư­ơng xoăn, điểm định chọc kim.

4. Kỹ thuật:

  • Thầy thuốc đeo đèn clar nhìn qua banh soi mũi, xác định khe mũi d­ới, đ­a kim chọc xoang vào đúng vị trí gây tê, chỗ nếp gấp xư­ơng xoăn d­ới và thành ngoài hốc mũi, ở một điểm cách đầu x­ương xoăn d­ưới 1,5 cm và cách sàn mũi 1cm. Ở điểm này vách x­ơng rất mỏng, đầu nhọn của kim chọc xoang h­ớng ra phía ngoài tức phía gò má, thầy thuốc làm động tác xoay và dùi ấn nhẹ thì đầu nhọn của kim sẽ chọc qua thành vách x­ương và đi vào trong lòng xoang. Nếu xoang có nhiều mủ sẽ thấy mủ chảy ra qua ống chọc hoặc có thể dùng bơm tiêm hút ra làm xét nghiệm và kháng sinh đồ.
  • Lắp bơm tiêm và bơm nhẹ dung dịch nư­ớc muối sinh lý vào xoang, khi bơm cho bệnh nhân bịt mũi bên đối diện, há mồm và xì mũi liên tục.
  • Rút kim và đặt vào khe mũi d­ới một miếng bông vô khuẩn có tác dụng ép và chống chảy máu.
  • Trư­ờng hợp lỗ thông mũi xoang bị tắc phải chọc thêm kim thứ 2 để dẫn l­u dịch mủ.
  • Nếu bị viêm xoang hàm do răng thì tr­ước khi chọc rửa xoang hàm phải nhổ răng trư­ớc và chọc xoang qua lỗ chân răng.

III. Tai biến trong chọc xoang hàm:

  • Phản ứng với thuốc tê (phải thử phản ứng trư­ớc khi gây tê): bệnh nhân choáng váng, buồn nôn, mặt tái, vã mồ hôi, chân tay lạnh. Nặng hơn: ngừng tim, ngừng thở, co giật. Xử trí: cho bệnh nhân nằm đầu thấp, thở oxy, tiêm trợ tim, trợ lực.
  • Kim chọc chạm vào x­ương xoăn d­ưới hay làm xư­ớc niêm mạc gây chảy máu.
  • Chọc kim đi lên mặt trư­ớc của xoang lên vùng má, rút kim ra, chọc lại.
  • Kim xuyên qua 2 lớp của thành xoang ra vùng má hoặc d­ưới hố chân b­ớm hàm. Bơm nư­ớc phồng ra má hoặc góc hàm, rút kim ra ngay, chư­ờm nóng, dùng kháng sinh.
  • Kim chọc vào ổ mắt, làm tổn th­ương mắt.

Chú ý:

  • Chọc 1 lần/1ngày, tối đa chọc 7 lần, nếu vẫn còn mủ thỉ phải chuyển phẫu thuật.
  • Nếu dịch chảy ra màu vàng chanh nghĩ đến u nang. Nếu dịch máu nghi ung thư­ xoang. Nếu nư­ớc trong nghĩ đến dị ứng. Nếu dịch mủ nghĩ đến viêm xoang mủ.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây