Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập484
  • Máy chủ tìm kiếm132
  • Khách viếng thăm352
  • Hôm nay97,189
  • Tháng hiện tại1,342,045
  • Tổng lượt truy cập36,107,273

Phương pháp chẩn đoán lao phổi - bệnh viện 103

1. Đại cương

Có rất nhiều phương pháp chẩn đoán bệnh lao nói chung và lao phổi nói riêng. Các phương pháp chẩn đoán bao gồm 2 nhóm:

  •  Các phương pháp có vai trò định hướng chẩn đoán: lâm sàng, Xquang, xét nghiệm  miễn dịch, công thức máu, dịch màng phổi v.v.
  •  Các phương pháp chẩn đoán xác định: xét nghiệm vi sinh, mô bệnh học .

Biểu hiện lâm sàng, Xquang của lao phổi rất đa dạng, do vậy không có triệu chứng lâm sàng và hình ảnh Xquang đặc hiệu cho lao phổi, nhưng đây lại là phương pháp chủ yếu giúp thầy thuốc lâm sàng định hướng chẩn đoán ban đầu .

Chẩn đoán vi sinh là phương pháp chẩn đoán xác định bệnh, trong đó phổ biến nhất là xét nghiệm AFB .

Xét nghiệm mô bệnh cũng có vai trò chẩn đoán xác định bệnh lao, tuy nhiên không chắc chắn như xét nghiệm vi sinh bởi tổn thương giải phẫu bệnh trong bệnh lao còn giống trong một số bệnh khác (Sarcoidose, giang mai, nấm phổi, bệnh bụi phổi Beryl, bệnh do Mycobacteria không điển hình…) .

2. Các phương pháp chẩn đoán lao phổi

2.1. Lâm sàng

Lâm sàng có vai trò định hướng chẩn đoán. Đây là phương pháp dễ thực hiện, rất quan trọng, cần thiết, đặc biệt ở tuyến y tế cơ sở trong việc sàng lọc và định hướng chẩn đoán ban đầu và chỉ định làm các xét nghiệm đúng .

2.1.1. Tiền sử

Cần tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của lao phổi như:

  •  Tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây (bệnh nhân lao phổi có AFB dương tính trong đờm) .
  •  Tình trạng suy giảm miễn dịch của cơ thể: mắc các bệnh như đái tháo đường, dùng Corticoid kéo dài, nhiễm HIV/AIDS, tiền sử chấn thương ngực, nghiện rượu, tiêm chích ma tuý, mổ cắt đoạn dạ dầy, viêm đại tràng mạn…
  •  Tình trạng kinh tế xã hội thấp: nghèo; làm việc nặng, nhọc; suy dinh dưỡng .v.v .

2.1.2. Triệu chứng lâm sàng

– Khởi phát bệnh: lao phổi thường khởi phát từ từ, có trường hợp không có triệu chứng lâm sàng. Khởi phát cấp tính thường gặp ở người trẻ hoặc ở các thể lao phổi cấp (lao tản mạn cấp tính, thùy viêm lao, lao phổi bã đậu .v.v.) .

– Triệu chứng toàn thân: thường có hội chứng nhiễm trùng độc mạn tính: sốt nhẹ, kéo dài, thường về chiều, ra mồ hôi đêm, mệt mỏi, ăn kém, mất ngủ, sút cân. Tuy nhiên các triệu chứng này không đặc hiệu vì nó còn gặp trong nhiều bệnh khác .

– Triệu chứng cơ năng:

  •  Ho: thường ho khan, ho kéo dài gặp phổ biến nhất (trên 3 tuần mà điều trị kháng sinh không kết quả). Có thể ho đờm màu xanh, màu vàng hoặc như chất bã đậu.
  •  Ho máu: gặp khoảng 30% bệnh nhân, thường gặp ở bệnh nhân có phá hủy hang trên Xquang. Mức độ hoa máu có thể từ nhẹ đến nặng, máu tươi hoặc máu cục, thường có đuôi ho máu .
  •  Đau ngực: đau âm ỉ, hay gặp ở vùng đỉnh phổi .
  •  Khó thở:  hay gặp khi tổn thương phổi rộng, lao phổi tản mạn hoặc có tràn dịch màng phổi kết hợp .

– Triệu chứng thực thể: trong lao phổi tổn thương thường khu trú vùng đỉnh phổi, do đó các dấu hiệu khám được ở vùng đỉnh phổi có giá trị gợi ý chẩn đoán bệnh.

Có thể gặp hội chứng đông đặc điển hình hoặc không điển hình, hay hôị chứng hang. Nhưng các triệu chứng thực thể  thường nghèo nàn, đối lập với tổn thương trên Xquang phong phú .

2.2. Chẩn đoán Xquang

– Chụp Xquang phổi là biện pháp không thể thiếu trong chẩn đoán lao phổi. Hình ảnh Xquang có giá trị hướng chẩn đoán lao phổi và giá trị định hướng tốt hơn lâm sàng .

– Những kỹ thuật Xquang thường áp dụng trong chẩn đoán lao:

  •  Chiếu điện: lợi ích của chiếu điện là quan sát hình ảnh động của phổi, thực hiện nhanh, rẻ tiền nên kiểm tra được hàng loạt đối tượng trong thời gian ngắn. Nhược điểm: dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ như lao huỵêt, lao kê và lao thâm nhiễm diện hẹp. Hiện nay ít sử dụng .
  •  Chụp Xquang chuẩn: đây là kỹ thuật Xquang được áp dụng phổ biến nhất trong chẩn đoán lao phổi. Thường chụp Xquang phổi thẳng, nghiêng. Dựa vào phim thẳng và nghiêng có thể xác định được vị trí và tính chất tổn thương .
  •  Chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography Scanner-CT): kĩ thuật này cho phép xác định chính xác vị trí, diện tổn thương và đánh giá chi tiết tổn thương (tổn thương viêm, xơ, vôi, hang, lan tràn .v.v.), nhưng đắt tiền. Do vậy chỉ chỉ định chụp  cắt lớp vi tính trong các trường hợp Xquang chuẩn không thấy hoặc nghi ngờ tổn thương .
  •  Chụp tư thế ưỡn 30o (Tư thế Lordotic): nhằm phát hiện những tổn thương bị xương đòn che lấp .

– Đặc điểm tổn thương trên Xquang gợi ý lao phổi:

+ Vị trí tổn thương: hay gặp tổn thương ở vùng cao của phổi (thùy trên, các phân thùy đỉnh) và các phân thùy ở phía sau (phân thùy 2, 6, 10) .

+ Tính chất tổn thương:

  •  Đa dạng tổn thương ở một vùng: tổn thương thâm nhiễm, hang, xơ, vôi xen kẽ nhau .
  •  Hay có phá hủy: tạo hang .
  •  Tổn thương xu hướng tiến triển mạn tính: tổn thương xơ, co kéo các thành phần lân cận (khí-phế quản, rốn phổi, rãnh liên thùy, vòm hoành, tim và trung thất .v.v.) .
  •  Tổn thương ở nhiều nơi: thể hiện tính chất lan tràn. Lan tràn đường máu và bạch huyết (tổn thương đối xứng 2 phổi), lan tràn theo đường phế quản hoặc tiếp cận (tổn thương không đối xứng) .
  •  Tổn thương thay đổi chậm sau điều trị đặc hiệu (đọc và phân tích phim theo chuỗi): Tổn thương thường thay đổi sau 1 tháng điều trị và sự thay đổi từ từ. Đặc điểm này rất quan trọng trong việc định hướng phân biệt chẩn đoán giữa viêm phổi và lao phổi .

2.3. Chẩn đoán vi sinh

Đây là phương pháp có giá trị quyết định chẩn đoán. Tuy nhiên hiệu quả chẩn đoán phụ thuộc vào từng kĩ thuật, do vậy cần chỉ định, phân tích và đối chiếu kết quả các kĩ thuật so với lâm sàng và các xét nghiệm khác để quyết định chẩn đoán phù hợp .

2.3.1. Kỹ thuật lấy bệnh phẩm

Hiệu quả của chẩn đoán vi sinh phụ thuộc rất nhiều vào kĩ thuật lấy bệnh phẩm xét nghiệm .

Cách lấy đờm :

  • Hướng dẫn bệnh nhân lấy đờm vào buổi sáng ngủ dậy
  • Sau khi vệ sinh răng miệng ho và khạc đờm vào cốc đựng bệnh phẩm vô trùng
  • Cố gắng lấy đờm
  • Tránh chỉ lấy nước bọt đơn thuần

Nếu bệnh nhân không khạc đờm, có thể cho uống thuốc long đờm hoặc khí dung nước muối sinh lý ưu trương và vỗ rung để bệnh nhân dễ khạc đờm .

Những trường hợp không có đờm có thể soi phế quản hút dịch phế quản hoặc rửa phế quản lấy dịch xét nghiệm. Trẻ em có thể lấy dịch dạ dày xét nghiệm 

2.3.2. Các kĩ thuật vi sinh chẩn đoán lao phổi

2.3.2.1.  Kỹ thuật soi trực tiếp (Nhuộm Ziehl-Neelsen):

Kỹ thuật này chỉ cho phép phát hiện vi khuẩn kháng axit (Acid Fast Bacilli- AFB) .

Ưu điểm:

  • Dễ thực hiện
  • Kết quả nhanh
  • Rẻ tiền và có thể thực hiện ở mọi nơi

Nhược điểm:

  • Độ nhạy thấp: trung bình đạt 30-40% khi làm một mẫu bệnh phẩm, 65-75% đối với nhiều mẫu bệnh phẩm (Nên soi từ 2 mẫu bệnh phẩm liên tiếp trở lên).
  • Kết quả dương tính khi soi trực tiếp phụ thuộc chính vào só lượng vi khuẩn trong bệnh phẩm: số lượng vi khuẩn > 105 vi khuẩn/ 1ml bệnh phẩm thì kết quả mới dương tính khi soi 10 vi trường.

Để tăng số lượng vi khuẩn trong bệnh phẩm có thể làm phương pháp thuần nhất đờm: Làm loãng đờm bằng NaOH rồi  ly tâm lấy cặn, nhuộm Ziehl-Neelsen .

Kĩ thuật : dàn bệnh phẩm trên lam kính, nhuộm Ziehl-Neelsen và đọc trên kính hiển vi quang học .

Đọc kết quả như sau:

  •  Khi không có vi khuẩn / 100-300 vi trường: kết quả âm tính.
  •  Có 1-9 vi khuẩn / 300 vi trường:  ghi số cụ thể số lượng vi khuẩn đếm được .
  •  Có 10-99 vi khuẩn / 100 vi trường : kết quả  (+) .
  •  Có 1-9 vi khuẩn / 1 vi trường : kết quả (++) .
  •  Có ³ 10 vi khuẩn / 1 vi trường : kết quả (+++) .

Kết quả sai sót có thể do:

  • Những vật bắt màu giống AFB (mảnh thức ăn, cặn thuốc, vi khuẩn kháng toan hoại sinh)
  • Lây nhiễm vi khuẩn từ dụng cụ xét nghiệm
  • Lấy bệnh phẩm và lưu trữ không đúng
  • Vị trí lấy bệnh phẩm dàn tiêu bản
  • Làm tiêu bản xấu, đọc tiêu bản không đúng 

2.3.2.2. Nuôi cấy

Đây là kĩ thuật xác định chắc nhắn vi khuẩn lao (Bacilli de Koch-BK) .

Ưu điểm: phân lập định danh được BK và làm kháng sinh đồ với các thuốc chống lao .

Nhược điểm: thời gian có kết quả lâu, đắt tiền, đòi hỏi trang bị phức tạp hơn .

Các kĩ thuật nuôi cấy:

– Nuôi cấy ở môi trường đặc: gồm các môi trường giàu dinh dưỡng như Lowenstein-Jensen, Ogawa, Dubos, Middlebrook. Môi trường sử dụng phổ biến môi trường Lowenstein Jensen (môi trường gồm có khoai tây, lòng đỏ trứng gà, Glycerin, Asparagin…), thời gian BK mọc sau 3-6 tuần và sau 2 tháng không mọc vi khuẩn thì mới kết luận là âm tính. Để xác định BK, người ta làm các test Nicain và test khử Nitrat .

– Nuôi cấy ở môi trường lỏng: là các môi trường được ứng dụng gần đây. Ưu điểm là thời gian mọc của BK nhanh hơn (trung bình 10-14 ngày), nhưng đắt và đòi hỏi trang bị phức tạp hơn. Các môi trường bao gồm:

  •  Hệ thống nuôi cấy BACTEC TB 460: được áp dụng từ năm 1980, là môi trường nuôi cấy bán tự động. Nguyên lý: xác định chuyển hóa của BK bằng cách đo  nồng độ CO2 giải phóng ra khi phát triển ở môi trường có gắn C14. Thời gian mọc của BK trung bình 8-14 ngày .
  •  Hệ thống nuôi cấy MGIT (Multi Growth Indicator Tube-MGIT): nguyên lý kĩ thuật tương tự như hệ thống BACTEC, nhưng thay thế gắn C14 bằng kĩ thuật phát quang (Fluorescene) dưới ánh sáng UV. Kết quả dương tính thì có khoảng 105-106 cfu BK/ml

2.3.2.3. Kỹ thuật sinh học phân tử

Một trong những bước tiến vĩ đại của sinh học phân tử trong y học những năm gần đây là kỹ thuật khuếch đại acid nucleic (AND và ARN) trong chẩn đoán lao. Các kỹ thuật sinh học phân tử chẩn đoán lao bao gồm:

Phản ứng chuỗi polymerase (Polymerase Chain Reaction-PCR):

Nguyên lý kĩ thuật: là kỹ thuật khuyếch đại ADN bằng cách tạo ra hàng triệu bản sao từ 1 chuỗi đích của acid nucleic.

ADN polymerase là enzym sao chép ADN, nó có thể tái sao chép nhiều lần đoạn ADN nếu được kích thích đặc hiệu  

Ưu điểm:

  • Độ nhạy và độ đặc hiệu rất cao (chỉ cần một vài BK trong bệnh phẩm kĩ thuật có thể dương tính)
  • Kết quả nhanh (24-48 giờ)
  • Chẩn đoán kháng thuốc nhanh
  • Có thể tiến hành trên nhiều loại bệnh phẩm khác nhau (đờm, dịch phế quản, dịch màng phổi, dịch não tuỷ .v.v.) .

Nhược điểm:

  • Giá thành đắt
  • Đòi hỏi trang bị tốn kém
  • Không phân biệt được BK sống hay chết.
  • Dễ có dương tính sai khi bị nhiễm lại sản phẩm PCR (contamination) nếu không tuân thủ chặt chẽ qui trình kỹ thuật vì kỹ thuật có độ nhạy cao
  • Có thể cho âm tính giả do bệnh phẩm chứa nhiều chất ức chế phản ứng hoặc vi khuẩn lao (tỷ lệ khoảng vài phần trăm) không có đoạn IS 6110 trong phân tử ADN.

Do vậy kết quả cần phải đối chiếu kết quả PCR với lâm sàng và Xquang trong chẩn đoán lao. Hiện nay thường sử dụng bộ kít PCR đa mồi (…) để tăng hiệu quả chẩn đoán của xét nghiệm PCR .

Phương pháp khuếch đại trực tiếp (Amplified direct test):

Sử dụng mẫu dò đặc hiệu (probe) để phát hiện những đoạn ARN ribosom (chứ không phải đoạn IS6110 của ADN): dùng những chủng hay phức hợp M. tuberculosis trong môi trường nuôi cấy để phát hiện nhanh vi khuẩn lao .

Phương pháp AMPLICOR:

Cũng dựa trên nguyên lý chung của kỹ thuật PCR nhưng dùng để khuyếch đại các axit nucleic khác của vi khuẩn lao .

– Kỹ thuật xác định các đoạn axit nucleic hoặc gen đặc trưng cho mỗi chủng BK (Restriction Fragment Length Polymorphism – RFLP):

Có giá trị trong điều tra dịch tễ học bệnh lao, xác định týp, phân týp của vi khuẩn lao, đánh giá lao tái hoạt động hay nhiễm trùng BK mới, xác định kháng thuốc thông qua việc xác định các gen đột biến kháng thuốc với H, Z, R, E, S và nhóm Quinolon; xác định những trường hợp dương tính giả do nuôi cấy vì nhiễm BK trong phạm vi labô đó .

Phản ứng chuỗi Ligase (Ligase chain  reaction – LCR):

Sử dụng enzym Ligase chịu nhiệt để liên kết và khuyếch đại ADN của vi khuẩn lao phục vụ cho chẩn đoán nhanh, trực tiếp.

Nguyên lý tương tự như PCR nhưng thay men Polymerase bằng men Ligase chịu nhiệt .

Xét nghiệm Xpert/MTB:

Nguyên lý: tương tự như PCR nhưng là Real time PCR sử dụng 3 gen mồi đặc hiệu cho độ đặc hiệu cao trong phát hiện BK .

Ưu điểm:

  • Độ nhạy và độ đặc hiệu cao (96.7%; 98.6%, giá trị dự báo dương 93.6%, giá trị dự báo âm 99.3%)
  • Kết quả nhanh (trong vòng 2h)
  • Xác định nhanh kháng rifampicine (xác định gen rpoB)
  • Không phản ứng chéo với các mycobacteria khác .

2.3.2.4. Phương pháp tiêm truyền động vật

Chỉ áp dụng trong phòng thí nghiệm để nghiên cứu vì đắt tiền và phức tạp, độ nhạy thấp. Thời gian phát hiện sau 9-12 ngày .

2.4. Chẩn đoán mô bệnh, tế bào học

– Chẩn đoán mô bệnh học có giá trị quyết định chẩn đoán bệnh lao. Để lấy bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh học phải tiến hành các kĩ thuật nội soi và sinh thiết.

Các kĩ thuật này thường áp dụng cho lao ngoài phổi, còn lao phổi chỉ áp dụng trong một số trường hợp (lao phổi tản mạn, u lao) .

– Chẩn đoán mô bệnh dương tính khi tìm được cấu trúc nang lao.

Cấu trúc của một nang lao gồm có các thành phần: ở giữa là hoại tử bã đậu, xung quanh có các thế bào bán liên và các tế bào khổng lồ Langhans, ngoài cùng là các Lympho bào và tổ chức xơ bao bọc .

– Chẩn đoán tế bào chỉ có giá trị định hướng chẩn đoán bệnh lao .

– Các kĩ thuật nội soi, sinh thiết áp dụng trong chẩn đoán bệnh lao :

  •  Nội soi phế quản-sinh thiết : chỉ định trong trường hợp lao phổi AFB âm tính, lao phổi tản mạn, u lao .
  •  Nội soi màng phổi : chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao mà chẩn đoán vi sinh, sinh thiết mù âm tính .
  •  Các nội soi khác : soi trung thất, thanh quản, ổ bụng, khớp, đại tràng khi nghi ngờ lao ở các cơ quan này .

– Các kĩ thuật sinh thiết, chọc hút:

  •  Sinh thiết phổi hút hoặc cắt: áp dụng trong chẩn đoán lao phổi tản mạn, u lao .
  •  Sinh thiết màng phổi, màng bụng, khớp, xương, hạch : chẩn đoán lao màng phổi, màng bụng, khớp, xương, hạch .
  •  Chọc hút hạch, tủy xương : chẩn đoán lao hạch, lao tản mạn .

2.5. Các xét nghiệm miễn dịch

2.5.1.  Phản ứng Mantoux

Ý nghĩa: đánh giá tình trạng nhiễm lao và định hướng chẩn đoán bệnh lao .

Nguyên lí: sau vài tuần cơ thể nhiễm vi khuẩn lao, tế bào lymphô trở lên mẫn cảm với trực khuẩn lao, khi tiêm tuberculin trong da sẽ hoạt hóa lymphô đã mẫn cảm tạo nên phản ứng tăng mẫn cảm muộn sau 48-72 giờ .

Kĩ thuật: tiêm trong da 5 UI dung dịch PPD (purified protein derivative-PPD) và đọc kết quả sau 72h .

Kết quả: đo đường kính quầng phản ứng tại chỗ tiêm, kết quả dương tính được tính như sau:

  •  Đường kính cục sẩn 5mm: ở người có HIV (+), mới tiếp xúc với bệnh nhân lao, ở bệnh nhân lao phổi cũ, dùng corticoid kéo dài .
  •  Đường kính cục sẩn 10mm: người mới nhập cư từ vùng có bệnh lao lưu hành cao, người có các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, suy thận mạn, cắt đoạn dạ dày .
  •  Đường kính cục sẩn 15mm: dương tính ở những người không có yếu tố nguy cơ lao .

Độ nhạy của xét nghiệm này phụ thuộc vào nhiều yếu tố và dao động từ 75-90% và độ đặc hiệu chỉ 70-95%.

Kết quả âm tính giả trong các trường hợp sau: nhiễm HIV/AIDS, suy dinh dưỡng, tuổi, một số bệnh mãn tính hoặc tình trạng bệnh lao nặng .

2.5.2. Xét nghiệm QuantiFERON-TB (còn gọi là QFT)

Nguyên lý: xét nghiệm định lượng interferon-g được tiết ra bởi tế bào lympho sau khi ủ qua đêm với PPD .

Giá trị: xét nghiệm có vai trò hỗ trợ trong việc xác định lao hoạt động; chẩn đoán phân biệt giữa nhiễm lao và tiêm chủng BCG; dự báo sự tái hoạt động của bệnh lao trong số cá thể có lao tiềm tàng; theo dõi đáp ứng điều trị .

Ưu điểm so với phản ứng Mantoux là:

  •  Xét nghiệm tiến hành trong labo (invitro test), sử dụng đa kháng nguyên
  •  Không có hiệu ứng Booster
  •  Bệnh nhân chỉ cần tới một lần cho kết quả nhanh trong một ngày
  •  Độ nhạy và độ đặc hiệu cao và ổn định trong chẩn đoán lao tiềm tàng và hỗ trợ chẩn đoán lao hoạt động (với độ nhạy từ 80-90%, độ đặc hiệu đạt 95-100%)
  •  QFT có độ đặc hiệu cao hơn nhưng độ nhạy thì tương đương test da trong chẩn đoán lao ở trẻ em .

2.5.3. Các kỹ thuật phát hiện kháng nguyên của trực khuẩn lao

– Các kháng nguyên bản chất protein: các kháng nguyên protein đặc hiệu của M. tuberculosis thường được sử dụng để chẩn đoán bao gồm:

  •  Kháng nguyên 38 kDa (còn có tên khác là kháng nguyên 5) là một protein đặc hiệu của phức hệ Mycobacterria tuberculosis. Thường sử dụng kỹ thuật ELISA để phát hiện kháng nguyên này. Độ nhạy của phương pháp đạt tới 67% đối với dịch rửa phế nang và 70-100% với dịch não tuỷ, nhưng độ đặc hiệu chỉ đạt 73% .
  •  Phức bộ kháng nguyên 45/47 kDa (APA): được sinh ra trong quá trình phát triển của M. tuberculosis. Thường sử dụng các kháng thể đa dòng của thỏ kháng APA để phát hiện APA. Kỹ thuật này có độ đặc hiệu cao (96%), nhưng độ nhạy lại rất thấp (< 40%) .

– Các kháng nguyên bản chất là glycolipid và lipopolysarcaride: 

Đặc trưng là kháng nguyên Lipoarabinomannan (LAM). LAM là một lopopolysarcaride có phân tử lượng 30 đến 40 kDa và là thành phần cấu tạo chủ yếu của vỏ tế bào đặc hiệu cho vi khuẩn lao.

Kháng nguyên LAM thường gặp trong đờm, dịch não tuỷ và huyết thanh của bệnh nhân lao.

2.5.4. Các xét nghiệm xác định kháng thể kháng lao

Vai trò: ứng dụng để xác định tình trạng nhiễm lao và hỗ trợ chẩn đoán trong trường hợp lao phổi AFB (-) và lao ngoài phổi .

Các kĩ thuật xác định kháng thể kháng lao gồm:

  •  Kỹ thuật miễn dịch gắn men (Enzzyme liked immuno sorbent assay-ELISA): các kháng nguyên được sử dụng trong kĩ thuật ELISA gồm kháng nguyên siêu nghiền, bán tinh chế và tinh chế (LAM, A60, kháng nguyên 5, 16 kDa, DAT, LDS, PGL- TB1,và ES- 31..). Hiệu quả ELISA trong chẩn đoán lao có Se 92,8% và Sp 96% .
  •  Một số kỹ thuật khác như PCR, HPLC, Accuprobe hybridisation cũng đã được ứng dụng để phát hiện kháng thể kháng lao: ưu điểm là rút ngắn được thời gian phát hiện, nhưng đắt tiền và phức tạp, đòi hỏi labo phải được trang bị hiện đại .

2.6. Xét nghiệm máu và dịch màng phổi

2.6.1. Xét nghiệm công thức máu, máu lắng

+ Chỉ có giá trị định hướng chẩn đoán lao khi kết hợp với lâm sàng và các xét nghiệm khác .

+ Đặc điểm công thức máu, máu lắng: số lượng bạch cầu bình thường hoặc tăng (thường tăng nhẹ), bạch cầu lymphô tăng. Tốc độ lắng máu thường tăng cao .

2.6.2. Xét nghiệm sinh hóa và tế bào dịch màng phổi

+ Chỉ có giá trị định hướng chẩn đoán lao màng phổi khi kết hợp với lâm sàng và các xét nghiệm khác .

+ Đặc điểm sinh hóa và tế bào dịch màng phổi: dịch tiết (Protein>30g/lít), glucose giảm (thấp hơn glucose huyết thanh cùng thời điểm), tỷ lệ lymphô tăng (thường ³ 70% có giá trị định hướng chẩn đoán) .

2.6.3. Xét nghiệm nồng độ Interferong ( INF g)

+ Interferon-g được tiết ra bởi tế bào lympho T được hoạt hóa khi tiếp xúc với trực khuẩn lao. IFN g tăng cả trong máu và dịch màng phổi của bệnh nhân lao .

+ Định lượng nồng độ IFN g thường sử dụng phương pháp miễn dịch huỳnh quang (Immunofluorescence assays) .

+ Giá trị: Định lượng nồng độ IFN g trong huyết thanh hoặc dịch màng phổi có giá trị chẩn đoán lao màng phổi: ở ngưỡng 149pg/ml có độ nhạy khoảng 85%, độ đặc hiệu 97% .

2.6.4. Xét nghiệm ADA (Adenosine deaminase – ADA)

+ Men ADA được sản xuất từ nhiều tế bào nhưng chủ yếu từ tế bào lympho T hoạt hóa .

+ Trong tràn dịch màng phổi do lao ADA tăng cả trong máu và dịch màng phổi. Giá trị của xét nghiệm nồng độ ADA trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao

+ Ngưỡng chẩn đoán từ 40-60 u/l. Độ nhạy 91-100%, độ đặc hiệu 81-94%, giá trị dự báo dương tính 84-93%, giá trị dự báo âm tính là 89-100% .

2.7. Phương pháp điều trị thử

Phương pháp điều trị thử được áp dụng trong trường hợp chẩn đoán lao phổi AFB (-) .

Chẩn đoán lao phổi AFB đờm âm tính khi: lâm sàng, Xquang định hướng, AFB (-); hội chẩn chuyên khoa định hướng lao .

Tiến hành điều trị thử kháng sinh chống lao, theo dõi sau 1-3 tháng thấy các triệu chứng lâm sàng và Xquang đáp ứng tốt thì có thể chẩn đoán xác định lao phổi .

3. Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi (theo Tổ chức y tế thế giới năm 1998)

3.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi AFB (+)

Chẩn đoán xác định lao phổi AFB (+) khi có 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:

  •  Có tối thiểu một lần xét nghiệm AFB đờm (+) kết hợp với lâm sàng, Xquang định hướng .
  •  Có tối thiểu 2 lần AFB đờm (+) liên tiếp .
  •  Một tiêu bản đờm AFB (+) và nuôi cấy BK (+) .

3.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán lao phổi AFB (-)

Chẩn đoán lao phổi AFB âm tính khi có 1 trong 2 tiêu chuẩn sau:

  •  Xét nghiệm đờm AFB (-) qua 2 lần khám xét, mỗi lần xét nghiệm 3 mẫu đờm cách nhau 2 tuần và có tổn thương nghi lao tiến triển trên Xquang và hội chẩn chuyên khoa định hướng lao .
  •  Nuôi cấy BK (+) .

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây