Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập264
  • Máy chủ tìm kiếm73
  • Khách viếng thăm191
  • Hôm nay54,059
  • Tháng hiện tại2,143,022
  • Tổng lượt truy cập36,908,250

Một số kỹ thuật lấy bệnh phẩm khi áp dụng soi phế quản - bệnh viện 103

1. Rửa phế quản nang (Bronchioloalveolar lavage- BAL)

1.1. Giới thiệu

– Rửa phế quản-phế nang là ph­ương pháp lấy bệnh phẩm ở đ­ường hô hấp dư­ới bằng cách bơm dung dịch huyết thanh mặn 9‰ vào phế quản cần rửa sau đó hút ra. Dịch thu đ­ược chứa các thành phần như­ tế bào, vi khuẩn, sinh hoá (Protein, Lipid…) .

– Kỹ thuật này ban đầu đ­ược áp dụng với mục đích điều trị, sau này, năm 1979,  Reynonds H. và Newbal H.H. áp dụng rửa để chẩn đoán. Kỹ thuật đươc áp dụng rộng rãi vào những năm đầu thập kỷ 80 .

– Rửa phế quản-phế nang thu được các thành phần sinh hóa, tế bào, các bụi khống chất trên bề mặt phế quản-phế nang vì vậy đã được xem là  kỹ thuật “sinh thiết phổi lỏng” (Liquid lung biopsy) .

–  Có 2 loại rửa phế quản-phế nang:

  •  Rửa phế quản-phế nang thể tích nhỏ: lượng dịch rửa bơm vào mỗi lần  khoảng 20-30 ml (< 50 ml), chủ yếu lấy các thành phần trên bề mặt phế quản .
  •  Rửa phế quản-phế nang thể tích lớn: lượng dịch bơm vào mỗi lần > 50 ml, chủ yếu nhằm lấy các thành phần trên bề mặt các tiểu phế quản nhỏ và phế nang .

1.2. Chỉ định

1.2.1. Chẩn đoán

–  Thâm nhiễm phổi nghi ngờ căn nguyên nhiễm trùng .

–  Nghi ngờ ung thư phổi .

–   Các bệnh phổi kẽ: Silicosis, berylliosis, asbestos .

–  Tích protein phế nang .

–  Chảy máu phế nang .

–  Tắc mạch mỡ và viêm phổi lipid  .

–  Bệnh viêm phổi tăng bạch cầu ái toan .

1.2.2. Nghiên cứu

– Đặc điểm tế bào trong nhiều bệnh lý khác nhau (hen phế quản, trụy hô hấp cấp tính) .

– Các bệnh phổi kẽ: tìm đặc điểm phế nang viêm   .

– Đặc điểm tế bào viêm ở người không hút thuốc, hút thuốc và  đã bỏ thuốc lá .

1.2.3. Điều trị

– Bệnh tích protein phế nang .

– Bệnh bụi phổi than .

– Nung mủ phổi-phế quản .

1.3. Chống chỉ định

Không có chống chỉ định tuyệt đối,  nhưng cần lưu ý:

  •  Rửa phế quản-phế nang có thể gây thiếu 02 kéo dài trong vài giờ .
  •  Có thể làm bùng phát suy hô hấp .
  •  Bệnh nhân thở máy .
  •  Tình trạng bệnh nhân không ổn định, thiếu 02 máu nặng .

1.4. Kỹ thuật

– Xác định vi trí rửa: rửa phân thuỳ có tổn thương khu trú. Trong trường hợp tổn thương lan toả, thường rửa tại thuỳ lưỡi (bên trái) và thuỳ giữa (bên phải)  

– Gây tê 2ml lidocain 2% tại lỗ phế quản phân thuỳ .

–  Bịt đầu ống so vào lỗ phế quản phân thuỳ, đầu ống soi phải nằm giữa lòng phế quản, không tỳ vào thành phế quản. Kiểm tra xem đã bịt kin lỗ phế quản chưa bằng hút nhẹ, thấy lỗ phế quản hơi xẹp lại và khi bơm dịch vào lỗ phế quản hơi giãn .

–  Bơm nước muối sinh lý (nhiệt độ phòng)  .

– Số lượng nhỏ (mỗi lần 20-60 ml) bằng bơm tiêm. Mỗi phân thuỳ không quá 150ml  .

– Thường rửa sau khi sinh thiết hoặc chải phế quản (để tăng số lượng tế bào)  .

– Trong bệnh phổi kẽ thành phần tế bào thu được chỉ thay đổi sau khi đã rửa ít nhất 120 ml  .

– Lấy dịch rửa qua kênh hút, chứa dịch thu được vào lọ “bẫy” dịch  .

– Có thể thực hiện theo nhip thở của bệnh nhân: Bơm dịch vào khi bệnh nhân hít sâu- hút dịch khi bệnh nhân thở ra .

– Với rửa phế quản-phế nang thể tích lớn: Lần hút ra đầu tiên thường được < 20% dịch bơm vào. Các lần tiếp theo hút ra được từ 40-70% dịch bơm vào .

– Nhằm phân tích dịch đại diện cho phế nang, thường bỏ mẫu dịch thu được lần đầu (chủ yếu các tế bào phế quản) .

– Các kỹ thuật nhằm tăng số lượng dịch hút ra:

  •  Hướng dẫn bệnh nhân hít vào sâu trong khi bơm và hút dịch ra .
  •  Bịt đầu ống soi vào sâu trong lòng phế quản phân thuỳ (tránh còn khe hở để dịch thoát ra) .
  •  Hút với áp lực< 120 cm H20 .

– Số lượng dịch hút ra giảm trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh nhân tuổi cao, hút thuốc lá, thở máy .

– Dịch rửa không đủ tiêu chuẩn:

  •  Số lượng dịch hút ra < 10% dịch bơm vào  .
  •  Tế bào biểu mô trụ  > 2%  .

1.5. Giá trị chẩn đoán của rửa phế quản-phế nang trong một số bệnh

–  Chẩn đoán lao: giá trị của tạo đờm qua khí dung và  rửa phế quản-phế nang trong chẩn đoán lao tương tự nhau : độ nhạy: 34% so với 38%, độ đặc hiệu của cả 2 phương pháp:100% . Chỉ tiến hành soi phế quản và rửa phế quản-phế nang ở những bệnh nhân không tạo được đờm hoặc sau 3 lần xét nghiệm mẫu đờm này âm tính .

–  Trong ưng thư phổi: u ngoại vi, chẩn đoán tế bào (+): 25% , u trung tâm: (+) 70%. Ung thư tiểu phế quản tận-phế nang: chẩn đoán tế bào (+): 90%. Ngoài ra,  có thể chẩn đoán các ung thư di căn tới phổi như : u sắc tố, sarcom tổ chức phần mềm, ung thư đường tiêu hoá, vú .

– Chẩn đoán nhiễm trùng cơ hội ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch: Joos L.và cộng sự trong 12 năm nghiên cứu về vai trò của rửa phế quản-phế nang trong chẩn đoán căn nguyên nhiễm trùng ở 1066  bệnh nhân suy giảm miễn dich gồm: nhiễm HIV/AIDS, điều trị hoấ chất, ghép tế bào gốc Stem cell, ghép tạng thấy: hiệu quả chẩn đốn vi khuẩn đạt: 34%, mycobacteria: 6%, aspergillus: 2%, CMV: 22% các viruts khác 8%, phản ứng PCR: 15% .

1.6. Các biến chứng

– Thiếu oxy máu .

– Sốt 25-50%. Thường hết sau vài giờ hoặc sau uống thuốc hạ sốt .

– Tăng đậm độ trên phim chụp Xquang .

–  Ran nổ tồn tại 24 giờ .

– Tràn khí màng phổi .

– Tăng áp lực đường thở trung bình .

– Các biến chứng khác như biến chứng chung của soi phế quản gồm: tử vong: 0.01 -0.04%, các biến chứng nặng: < 1% .

2. Sinh thiết trong lòng phế quản(endobronchial biopsy)

2.1. Giới thiệu

Kỹ thuật sinh thiết phế quản đ­ược áp dụng cho những tổn thương nhìn thấy được qua soi phế quản. Tổn thương có thể là u trong lòng phế quản, thâm nhiễm niêm mạc, chít hẹp khẩu kính phế quản, tù bờ carina và các cựa phế quản. Vị trí sinh thiết là khối u, vùng niêm mạc bị tổn thương hoặc cựa phế quản. Bệnh phẩm thu đ­ược có thể áp dụng cho chẩn đoán tế bào, mô bệnh .

2.2. Chỉ định

– Nhìn thấy tổn thương trên niêm mạc hoặc trong lòng  phế quản .

– Khi có bất thường trên bề mặt niêm mạc khi soi huỳnh quang) chẩn đoán dị sản, loạn sản và carcinoma in-situ) .

– Nghi ngờ sarcoidosis (thậm chí không thấy bất thường niêm mạc) .

2.3. Dụng cụ

2.4. Kỹ thuật

–  Sinh thiết càng nhiều mảnh càng tốt  .

–  Đưa ống soi càng gần tổ chức cần sinh thiết càng tốt .

–  Có thể có cảm giác hơi bị kéo lại khi sinh thiết  .

– Sử dụng kìm sinh thiết có gai nhọn ở giữa nếu tổn thương nằm dọc theo thành khí quản hoặc phế quản .

– Cố gắng sinh thiết tổ chức dưới niêm mạc với các tổn thương thâm nhiễm niêm mạc, nhằm tăng hiệu quả chẩn đoán với ung thư tế bào nhỏ, Amyloidosis, Sarcoidosis .

– Kỹ thuật sinh thiết sâu, dưới niêm mạc:

– Sử dụng kìm sinh thiết có gai nhọn ở giữa để sinh thiết tổn thương nằm sát thành phế quản .

2.5. Hiệu quả

– Tổn thương trung tâm: hiệu quả chẩn đoán : 80-84%. Hiệu quả chẩn đoán tăng khi kết hợp với chải và rửa phế quản .

– Chưa thống nhất số lượng mảnh sinh thiết đạt hiệu quả tối đa: nếu  sinh thiết 4-5 mảnh, với tổn thương nhìn thấy khi soi phế quản, hiệu quả chẩn đoán đạt: 90% .

– Với tổn thương thâm nhiễm niêm mạc: hiệu quả chẩn đoán thấp hơn sinh thiết hút xuyên vách phế quản .

– Hiệu quả chẩn đoán với  ung thư phế quản: sinh thiết 3-5 mảnh, hiệu quả chẩn đoán trong ung thư phổi: 90-100% . Nhìn chung, kết quả dao động từ 67-100% do:

  •  Lấy không đủ tổ chức, mảnh sinh thiết bị nát .
  •  Sinh thiết vào vùng hoại tử  .
  •  Không sinh thiết được vùng tổn thương: tổn thương dưới niêm mạc, chèn đẩy từ ngoài vào  .

2.6. Biến chứng

– ít gặp chảy máu nhiều ồ ạt so với  sinh thiết xuyên thành phế quản   .

– Nguy cơ chảy máu tăng trong tăng ure máu, tăng áp lực động mạch phổi, tổn thương gan, giảm tiểu cầu và suy giảm miễn dịch .

– Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên  .

3. Chải phế quản

3.1. Giới thiệu

Kỹ thuật chải phế quản do Hattori làm đầu tiên năm 1964 qua ống thông Metras. Năm 1968, Fenessy J.J. cải tiến luồn bàn chải nilon qua catheter. Năm 1972 Zavala D.C. sử dụng kỹ thuật chải phế quản qua soi phế quản ống mềm, từ đó kỹ thuật này đư­ợc áp dụng rộng rãi. Có nhiều kiểu bàn chải, như­ng hiện nay sử dụng phổ biến kiểu bàn chải có bao catheter chất dẻo bảo vệ bên ngoài.

Với những tổn thương nhìn thấy qua ống soi phế quản có thể chải phế quản d­ưới sự kiểm sốt trực tiếp.

Với những tổn thương không nhìn thấy, có thể chải phế quản “mù”, nếu có màn huỳnh quang tăng sáng hiệu quả chẩn đoán của chải phế quản sẽ tăng lên 

3.2. Chỉ định

– Các tổn thương nhìn thấy như u trong lòng hoặc bất thường niêm mạc phế quản .

– U ngoại vi (có hoặc không có màn huỳnh quang tăng sáng ) .

– Nhiễm trùng ngoại vi: viêm phổi, áp xe, hang .

3.3. Dụng cụ

– Que chải chuẩn để chẩn đoán tế bào có sợi ni-lon 3mm  .

– Loại que chải có sợi 7 mm (ít khi sử dụng): không có vỏ, không kéo vào trong ống soi được, chỉ dùng với tổn thương nhìn thấy được. Loại que này lấy được nhiều tế bào, nhưng kết quả chẩn đoán và biến chứng chảy máu tương tự như loại 3mm  .

– Loại que chải có bảo vệ: tránh nhiễm vi khuẩn đường thở trên, có giá trị trong chẩn đoán cấy định lượng với nhiễm trùng phế quản-phổi .

3.4. Kỹ thuật

– Luồn catheter vào phân thuỳ phổi đã dự định chải. Sau đó đẩy que chải ra khỏi vỏ (có thể tới 5 cm). Đảm bảo que chải không bị đẩy ngược lại ống soi hoặc vỏ catheter  .

– Di chuyển que chải tiến và lùi trên bề mặt của tổn thương nhìn thấy được, hoặc chải mù với các đường thở ngoại vi, di chuyển tiến, lùi kèm theo xoay que chải hoặc không .

– Các tế bào thu được sẽ nằm giữa các que chải .

3.5. Hiệu quả chẩn đoán

– Khác nhau giữa các tác giả: trong ưng thư phế quản: 70-94% với tổn thương trung tâm, 20-78% với tổn thương ngoại vi .

– Nên kết hợp với các kỹ thuật khác như sinh thiết và rửa phế quản: hiệu quả có thể tới 94% .

3.6. Biến chứng

– Chảy máu .

– Tràn khí màng phổi  .

– Vỡ ổ áp xe  .

4. Sinh thiết xuyên thành phế quản(Transbronchial lung biopsy)

4.1. Giới thiệu

Năm 1965, Andersen H.A., Fontana R.S., Harrison E.C. là những ngư­ời đầu tiên sử dụng kỹ thuật Sinh thiết xuyên thành phế quản qua soi phế quản ống cứng. Năm 1974, Cheinhorn D. J. đã thiết kế kìm sinh thiết qua soi phế quản ống mềm. Từ đó kỹ thuật sinh thiết xuyên thành phế quản được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán các u ngoại vi ở phổi, nhất là ở thuỳ trên, nơi mà ống cứng không thể thực hiện đư­ợc .

Ở các n­ước phát triển, kỹ thuật này th­ường đ­ược thực hiện d­ưới màn huỳnh quang tăng sáng. ở Việt Nam, sinh thiết xuyên thành phế quản không có sự trợ giúp của màn huỳnh quang tăng sáng, việc xác định vị trí tổn th­ương làm cơ sở cho việc sinh thiết xuyên thành phế quản dựa trên phim Xquang phổi chuẩn thẳng, nghiêng và gần đây là phim chụp cắt lớp vi tính .

4.2. Chỉ định

– Thâm nhiễm phổi lan toả hoặc khu trú nghi ngờ căn nguyên:

  •  Bệnh nhiễm trùng (rửa phế quản-phế nang đã không cho phép chẩn đoán) .
  •  Bệnh phổi kẽ  .
  •  Ung thư biểu mô hoặc u lympho .

– Đám mờ hoặc nốt mờ ở phổi .

4.3. Chống chỉ định

– Không đủ trang thiết bị .

– Thủ thuật viên chưa thành thạo để có thể sinh thiết hiệu quả và an toàn .

– Rối loạn đông chảy máu, bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông..

– Giảm tiểu cầu .

– Tăng urê máu  .

– Tăng áp lực động mạch phổi (tăng nguy cơ chảy máu) .

4.4. Các nguy cơ biến chứng

– Sinh thiết ở phổi có khí phế thũng .

– Sinh thiết cạnh bóng khí thũng (bullae và blebs) .

– Sinh thiết  phổi bệnh phổi kẽ giai đoạn cuối (end lung state)  .

– Sinh thiết  trong viêm mạch .

– Sinh thiết  ở thùy giữa và thùy lưỡi, phân thùy 6 cạnh rãnh liên thùy. Ngay

cạnh tim .

–  Nên tránh phân thùy trước của thùy trên vì nếu chảy máu sẽ khó kiểm soát .

4.5. Kỹ thuật

4.5.1. Sinh thiết dưới màn huỳnh quang tăng sáng

–  Kỹ thuật bịt ống vào lỗ phế quản dẫn lưu đến tổn thương: giữ ống soi ở vị trí thích hợp, cho phép hút hoặc bịt ống soi vào lỗ phế quản để cầm máu. Luôn quan sát toàn diện, phát hiện chảy máu kịp thời .

–  Luồn kim sinh thiết qua kênh sinh thiết của ống soi. Khi bắt đầu nhìn thấy kim sinh thiết ở đầu ống soi mới bật màn huỳnh quang tăng sáng. Nếu  khó đẩy kim sinh thiết ra ngoại vi, có thể do kim vướng vào cựa phế quản, nên  thay đổi hướng của kim sinh thiết .

– Khi kim sinh thiết đã đến đích, mở và lắc nhẹ kim để đầu kim được mở .

– Đẩy nhẹ kim cho đến khi có cảm giác vướng .

– Nếu bệnh nhân giơ tay nếu có cảm giác đau .

– Nếu đau, chứng tỏ kim đã ở ngoại vi và gần chạm màng phổi .

– Khó đánh giá nếu bệnh nhân được tiền mê sâu .

– Đóng kim sinh thiết và rút kim ra theo lòng kênh sinh thiết .

– Khi muốn đẩy kim sinh thiết vào các phân thuỳ của thuỳ trên phổi, giữ ống soi ở phế quản trung tâm, sử dụng hướng dẫn của màn huỳnh quang đẩy kim sinh thiết vào các phân thuỳ lựa chọn .

4.5.2. Sinh thiết khi không có màn huỳnh quang tăng sáng

Thực hiện theo các bước:

  • Bước 1. Bịt ống soi vào lỗ phế quản dẫn đến tổn thương, đẩy kim sinh thiết cho đến khi có lực cản nhẹ, sau đó lùi kim lại .
  • Bước 2: Lùi kim sinh thiết lại 1,5-2 cm 
  • Bước 3: Rút kim sinh thiết ra nhanh , trong lúc ống soi được giữ nguyên .

4.6. Các biến chứng liên quan đến sinh thiết xuyên thành phế quản

– Chảy máu >50 ml: 1-2%. Chỉ cần 150 ml máu hoặc nước muối sinh lý có thể lấp đầy khoảng chết gồm: khí quản, các phế quản gốc và phế quản lớn 2 bên .

– Tràn khí màng phổi: 1-4% .

– Tử vong: 0,04-0,12% .

4.7. Điều trị biến chứng chảy máu

Các nguyên tắc: duy trì thông thoáng đường thở, cầm máu, phòng và điều trị các biến chứng hô hấp, tim mạch, rối loạn đông chảy máu .

4.7.1. Thông thoáng đường thở

– Hút qua ống soi và dùng ống hút lớn, hút vùng miệng thanh quản .

– Nằm nghiêng sang bên chảy máu, đầu cao 45 độ (thanh môn không bị lưỡi chèn, máu có thể tự chảy qua miệng, thuận lợi cho việc tiếp tục hút qua miệng) .

– Đặt nội khí quản, thở bên phổi còn lại .

4.7.2. Cầm máu

– Ngừng chảy máu: hút qua ống soi, chèn bóng, dùng ống soi cứng, nhét gạc chèn .

– Co mạch: dùng epinephrine, nước muối sinh lý lạnh. Truyền tĩnh mạch vasopressin (0,2-0,4 UI/ phút gây co động mạch phế quản: nguy hiểm nếu bệnh nhân có bệnh lý động mạch vành và tăng huyết áp) .

– Tăng tạo cục máu đông ở vùng chảy máu: nằm nghiêng sang bên chảy máu .

– Cầm máu bằng bóng Cook: có thể luồn qua ống nội khí quản .

– Cầm máu bằng rửa nước muối lạnh: bơm rửa từng đợt nước muối sinh lý lạnh, 40C  hoặc vừa tan từ đá. Cầm máu được trong hầu hết các trường hợp .

– Thái độ với cục máu đông: khi cục máu đông mới hình thành, không lấy ngay cục máu ra vì có thể sẽ chảy máu lại. Kiểm tra bằng nội soi sau vài ngày, có thể lấy hoặc không lấy cục máu đông, tùy theo tiên lượng khả năng chảy máu lại .

– Không lạm dụng thuốc an thần giảm ho: dùng thuốc trấn tĩnh, an thần giảm ho liều cao có thể dẫn đến giảm oxy, tăng C02 và biến đổi tình trạng tim mạch, viêm phổi hít ở các bệnh nhân này, mặc dù ngừng chảy máu nhưng có thể lại phải đặt nội khí quản .

4.8. Dự phòng chảy máu trong và sau sinh thiết

– Chuẩn bị trước khi soi: thăm khám, xét nghiệm, giải thích các nguy cơ cho bệnh nhân .

– Thận trọng khi sinh thiết: tránh các vùng tăng tưới máu và các mạch máu dưới niêm mạc .

– Chuẩn bị tốt các dụng cụ: oxy, monitoring tim mạch, các thuốc hồi sức, thuốc cầm máu, nội khí quản, sốc điện .

– Các chỉ tiêu xét nghiệm:

  •  Số lượng tiểu cầu: >50.000/ml .
  •  Không suy gan, suy thận .
  •  Bệnh nhân rối loạn đông chảy máu .
  •  Xét nghiệm PT, aPTT ở bệnh nhân có tiền sử chảy máu, điều trị rối loạn đông chảy máu .
  •  Ngừng thuốc chống ngưng tập tiểu cầu như Plavix .

– Không sinh thiết ở người có tạng ưa chảy máu .

– Giữ ống soi ở tư thế bít vào phế quản sau sinh thiết .

– Không hút mạnh sau khi sinh thiết, chỉ hút từng nhịp ngắn nhẹ để đánh giá mức độ chảy máu .

– Nếu chảy máu nhiều, nhẹ nhàng bơm 5-10ml thanh huyết mặn để lạnh qua ống soi,  chờ 30 giây sau đó hút lại nhẹ nhàng .

– Epinephrine 1/10000 (1-3ml) không tác dụng với chảy máu ở ngoại vi .

– Với bệnh nhân chạy thận nhân tạo: chỉ sinh thiết sau 24 giờ , IRN< 1,5 đơn vị và tiểu cầu > 50.000/ ml.

4.9. Biến chứng tràn khí màng phổi sau sinh thiết

– Ngay sau sinh thiết: phát hiện dựa vào, xuất hiện khó thở, đau ngực, khái huyết, thở nhanh nông, mạch nhanh, tụt huyết áp. Phát hiện qua chiếu màn tăng sáng .

– Xuất hiện những ngày sau soi phế quản: phát hiện dựa vào lâm sàng và chụp Xquang. Có thể không có triệu chứng .

– Xử trí tràn khí màng phổi:

  •  Thường tràn khí ít: theo dõi và chụp lại Xquang kiểm tra .
  •  Đặt dẫn lưu và hút liên tục: hết khí sau vài ngày .
  •  Sử dụng ống fogarty: có thể dùng bóng fogarty, tuy nhiên phải chọn bóng vừa với khẩu kính của phế quản phân thùy và luồn được qua kênh sinh thiết của ống soi .

5.Sinh thiết hút xuyên thành khí phế quản (Transbronchial needle asparation biopsy)

5.1. Giới thiệu

Kỹ thuật sinh thiết hút xuyên thành khí-phế quản do Shieppati (Argentina) tiến hành đầu tiên qua soi phế quản ống cứng 1949. Năm 1981, Wang K.P. ứng dụng kỹ thuật này qua soi phế quản ống mềm. Hiện nay có nhiều loại kim khác nhau được sử dụng để lấy bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh, tế bào.

Kỹ thuật đư­ợc ứng dụng để chẩn đoán xác định ung thư phế quản, xác định di căn hạch rốn phổi, trung thất làm cơ sở để chẩn đoán giai đoạn T.N.M của ung thư phế quản .

Kỹ thuật này khắc phục đ­ược những hạn chế của các kỹ thuật sinh thiết phế quản, chải phế quản, rửa phế quản-phế nang vì nó cho phép lấy được bệnh phẩm nằm sâu hơn bên trong khối u, đặc biệt những khối u chèn ép từ ngoài làm hẹp lòng phế quản như­ng mới thâm nhiễm đến lớp d­ưới niêm mạc, các tế bào biểu mô phế quản còn bình th­ường.

Theo Baaklini W.A và cs (2000), Gunen H. và cs (2001), sinh thiết hút xuyên thành khí phế quản có hiệu quả cao hơn sinh thiết xuyên thành phế quản cả khi tiến hành đơn thuần và kết hợp với chải phế quản, rửa phế quản-phế nang trong chẩn đoán u ngoại vi. Hiệu quả của kỹ thuật tăng hơn khi có chẩn đoán tế bào tức   thì .

5.2. Chỉ định

-Tổn thương khu trú hoặc lan tỏa dưới niêm mạc nghi ngờ: nhiễm khuẩn, ung thư biểu mô hoặc u lympho .

– Nốt hoặc khối u phổi .

– Hạch hoặc khối u trung thất .

-Tổn thương trong lòng phế quản đặc biệt khi nghi ngờ khối u mạch máu, sinh thiết có thể gây chảy máu lớn hoặc các tổn thương hoại tử bề mặt cần lấy bệnh phẩm ở vùng trung tâm .

5.3. Chống chỉ định

– Chống chỉ định với soi phế quản .

– Thận trọng với bệnh nhân có rối loạn đông chảy máu .

5.4.  Dụng cụ và kỹ thuật

– Sử dụng kim 21G chẩn đoán tế bào; loại 19G để lấy bệnh phẩm chẩn đoán mô bệnh .

– Sinh thiết hút xuyên thành khí-phế quản được thực hiện sau khi đã quan sát toàn bộ đường thở và trước các kỹ thuật lấy bệnh phẩm khác. Hạn chế hút khi luồn ống soi, rửa vị trí chọc bằng nước muối sinh lý để tránh  nhiễm bệnh phẩm. Chỉ luồn hoặc rút kim khi ống soi ở trạng thái ruỗi thẳng và kim luôn nằm trong catheter khi ở trong ống soi .

– Có 4 kỹ thuật có thể lựa chọn:

  •  Kỹ thuật 1: phương pháp chọc nhanh (jabbing method) (hình A)Kim chọc hút được chọc mạnh qua khoảng gian sụn với động tác nhanh, dứt khoát trong khi nguời phụ giữ cố định ống soi ở mũi hay miệng .
  •  Kỹ thuật 2: phương pháp ho (hình C). Kim Wang được áp sát khe liên sụn khí-phế quản, cố định chắc, sau đó yêu cầu bệnh nhân ho mạnh, khi đó kim chọc hút xuyên qua thành khí phế-quản vào tổn thương .
  •  Kỹ thuật 3: phương pháp cưỡi lưng (piggyback) (hình B). Giữ chắc kim sinh thiết ở đầu tay cầm, đẩy cả kim và ống soi vào thành phế quản .
  •  Kỹ thuật 4: tỳ đầu kim vào thành khí-phế quản (hub-against-the-wall method) (hình D): giữ nguyên kim trong vỏ catheter, đẩy catheter ra khổi ống soi chạm vào thành đường thở, đẩy kim ra  để xuyên qua thành đường thở .

– Sau khi chọc kim vào tổn thương, nối đầu ngồi kim với bộ phận hút áp lực âm, sau đó hút mạnh để đưa tổ chức tổn thương vào lòng kim wang. Giải thoát áp lực hút trước khi rút kim khỏi thành đương thở .

– Khi tiến hành sinh thiết hút xuyên thành khí-phế quản cho những tổn thương dạng nốt, khối ở ngoại vi cần được tiến hành dưới hướng dẫn của màn huỳnh quang .

5.5. Hiệu quả của sinh thiết hút xuyên thành khí-phế quản

– Với ung thư phổi: độ nhạy  >70%,  độ đặc hiệu >90%, giá trị dự báo (+) 100%, giá  trị dự báo (-) 70% .

– Hiệu quả chẩn đoán phụ thuộc vào:

  •  Kinh nghiệm của người soi phế quản và người đọc tế bào, vị trí của tổn thương: cao nhất là dưới carina và cạnh khí quản phải, sử dụng siêu âm qua khí quản .
  •  Kích thước của hạch hoặc u, và loại tế bào mô bệnh của khối u (cao nhất là ung thư tế bào nhỏ) .
  •  Đọc tế bào tại nơi sinh thiết sẽ mang lại hiệu quả chẩn đoán cao hơn (hạn chế số lần chọc và có thể cho chẩn đoán ngay lần chọc đầu tiên) .

5.6. Biến chứng

5.6.1. Các biến chứng liên quan đến bệnh nhân

– Sốt .

-Vãng khuẩn huyết .

– Tràn khí trung thất .

– Tràn khí màng phổi .

– Chảy máu .

– Chọc vào các cấu trúc của trung thất .

5.6.2. Các biến chứng liên quan đến dụng cụ

– Gãy ống soi .

– Thủng kính hoạt động của ống soi .

– Gãy kim .

5.6.3. Các biến chứng liên qua đến nhân viên

Kim đâm thủng găng tay .

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây