Lưu ý khi nuôi trẻ sinh ra từ người mẹ có HIV/AIDS
1. Trẻ sinh ra từ người mẹ có HIV/AIDS có cho trẻ bú sữa mẹ hay không?
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, bởi trong sữa mẹ có chứa dinh dưỡng và kháng thể giúp trẻ có sức đề kháng tốt hơn. Tuy nhiên, đối với trẻ sinh ra từ người mẹ có nhiễm HIV thì không nên. Vì cho con bú bằng sữa từ người mẹ có HIV là 1 trong 3 con đường lây tuyền HIV sang cho con (2 con đường lây truyền HIV từ mẹ sang con là trong thời kỳ mang thai và trong khi sinh).
Ước tính có khoảng 5-20% khi trẻ bú mẹ hoàn toàn sẽ lây nhiễm virus HIV từ mẹ; khi trẻ vừa bú mẹ vừa ăn thức ăn thay thế đến 6 tháng tỷ lệ lây nhiễm là 25-35%; kéo dài việc cho bú mẹ tới 18-24 tháng tỷ lệ lây nhiễm là 30-45%.
Nguyên nhân sự lây truyền virus HIV khi trẻ bú mẹ là do HIV có trong sữa mẹ có thể xâm nhập qua niêm mạc miệng, lưỡi của trẻ sơ sinh và lây nhiễm cho trẻ, nhất là trong trường hợp trẻ có các viêm nhiễm trong miệng.
Hoặc trong trường hợp vú mẹ có viêm nhiễm, vết nứt hay khi trẻ mọc răng cắn gây chảy máu thì HIV có thể theo máu vào miệng trẻ, xâm nhập qua niêm mạc và gây nhiễm virus HIV cho trẻ.
2. Lưu ý khi nuôi trẻ sinh ra từ người mẹ có HIV/AIDS
Theo đó, giải pháp để nuôi trẻ có mẹ nhiễm HIV để phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con thì các tổ chức liên quan tới nuôi dưỡng trẻ nhỏ khuyến cáo mẹ nên lựa chọn thức ăn thay thế. Các sữa thay thế gồm:
- Sữa công thức: Mặc dù không thể tốt bằng sữa mẹ nhưng sữa công thức có chất dinh dưỡng gần giống với sữa mẹ, vì vậy các chuyên gia khuyến cáo nên sử dụng để thay thế sữa mẹ khi có mẹ nhiễm HIV.
- Sữa bột nguyên kem và sữa làm đông khô: Các vi chất dinh dưỡng có trong sữa đạt nhu cầu nhưng chưa cân đối như sữa mẹ. Tuy nhiên vẫn có thể sử dụng để thay thế cho trẻ bú.
- Sữa từ gia súc tại nhà tự chế biến: Ví dụ như sữa cừu, sữa bò, sữa dê. Thành phần các chất dinh dưỡng thường thiếu, đặc biệt là vi chất dinh dưỡng, nên các chuyên gia khuyến nghị nên hạn chế sử dụng hơn so với hai loại sữa trên.
Trong trường hợp không đủ điều kiện nuôi trẻ có mẹ nhiễm HIV như trên thì người mẹ bị nhiễm HIV có thể lựa chọn cách cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và ít nhất là 3 tháng để nhận các chất dinh dưỡng và đề kháng từ người mẹ. Tuy nhiên, khả năng lây truyền virus HIV có trong sữa mẹ sang con là khoảng 15-20%. Vì vậy, để giảm nguy cơ lây truyền HIV cho con, người mẹ có HIV cần thực hiện như sau:
- Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn khi mẹ và trẻ không có biểu hiện của nhiễm trùng da, miệng. Nếu có cần điều trị rồi mới cho trẻ bú.
- Khi có điều kiện để ăn bổ sung thì phải cho trẻ ngừng hẳn bú mẹ rồi chuyển sang ăn bổ sung và uống thêm sữa công thức dành cho trẻ 6 tháng đầu đời.
- Nuôi trẻ bằng sữa mẹ đã được xử lý virus HIV: Mẹ hãy vắt sữa ra và đun sôi 100 độ để diệt vi rút HIV, sau đó làm lạnh ngay và cho trẻ ăn.
- Bú trực: Việc làm này vừa giúp giảm khả năng nhiễm HIV ở trẻ sơ sinh vừa giúp trẻ được tận hưởng dòng sữa mẹ ngọt ngào và các chất dinh dưỡng có trong sữa mẹ. Tuy nhiên, khi áp dụng cách này thì phải đảm bảo người cho bé bú trực hoàn toàn khỏe mạnh và không bị nhiễm HIV.
Lưu ý: Tuyệt đối không nuôi trẻ phối hợp giữa bú mẹ và nuôi sữa thay thế vì tăng nguy cơ lây truyền cho trẻ, tăng nguy cơ tử vong gấp 6 lần do mắc các bệnh nhiễm trùng của trẻ.
3. Làm gì để loại trừ nguy cơ nhiễm HIV cho con?
HIV ở phụ nữ mang thai có thể lây truyền cho con trong quá trình mang thai, khi sinh và khi cho con bú. Nếu không được điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV mang thai sẽ có 35 trẻ sinh ra lây truyền HIV từ mẹ. Nhưng nếu được điều trị dự phòng chỉ có khoảng 5 trẻ sinh ra bị lây truyền căn bệnh này từ mẹ. Do đó việc dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con là việc rất quan trọng.
3.1 Trong khi mang thai
- Thực hiện tư vấn đầy đủ trước và sau xét nghiệm HIV ở phụ nữ mang thai;
- Tư vấn về dinh dưỡng khi mang thai và nuôi dưỡng trẻ sau sinh;
- Tư vấn về nguy cơ và bất lợi có thể xảy ra khi mang thai, sinh đẻ và việc nuôi dưỡng,chăm sóc trẻ sau này;
- Tư vấn hỗ trợ tinh thần, thực hiện các hành vi an toàn tránh để lây nhiễm HIV cho bản thân và người xung quanh.
- Tập huấn sẵn sàng điều trị bằng ARV và thực hành tuân thủ thuốc ARV.
3.2 Trong khi sinh
- Đảm bảo các nguyên tắc vô khuẩn trong sản khoa.
- Hạn chế các thủ thuật như: bấm ối, mổ lấy thai, đặt điện cực, rạch màng ối sớm.
- Tắm cho trẻ ngay sau sinh.
3.3 Sau khi sinh
- Thực hiện cấp phát đủ liều thuốc ARV cho mẹ nếu mẹ và trẻ được xuất viện sớm.
- Chuyển tiếp hồ sơ đến cơ sở chăm sóc và điều trị HIV dành cho người lớn để người mẹ được chăm sóc và điều trị lâu dài.
Để tránh những hậu quả nguy hiểm không mong muốn cho những phụ nữ mang thai mắc phải HIV/AIDS, cần phải hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất để những sản phụ này được tư vấn HIV cho phụ nữ mang thai một cách kịp thời, từ đó sẽ có phương pháp điều trị cũng như dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con phù hợp nhất.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Chất tiết tế bào gốc là một loại tế bào đặc biệt có khả năng chuyển hóa thành các tế bào chuyên hóa khác trong cơ thể. Ứng dụng của chất tiết tế bào gốc có thể bao gồm điều trị các vấn đề lão hóa, chấn thương tế bào, và các bệnh lý khác.
Ferritin là một loại protein dự trữ sắt và giải phóng sắt khi cơ thể cần. Ferritin tập trung chủ yếu trong các tế bào và chỉ có một lượng rất nhỏ lưu thông trong máu.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.





