Giá trị của một số dấu ấn sinh học trong chẩn đoán ung thư phổi - Bệnh viện 108
Các dấu ấn ung thư (tumour markers) là những chất thường có bản chất peptide, được tiết ra bởi các tế bào ung thư, chúng thường không có hoặc có với nồng độ rất thấp trong huyết thanh của người bình thường. Dưới đây là một số dấu ấn ung thư hay được sử dụng trong chẩn đoán và theo dõi ung thư phổi.
Neuron Specific Enolase (NSE):
- Là dấu ấn ung thư được dùng trong ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTP KTBN).
- NSE có trong tiểu cầu và hồng cầu có tác dụng ngăn ngừa chảy máu.
- Nồng độ trong huyết thanh người bình thường < 13g/l.
- Tăng NSE trong huyết thanh mức độ vừa gặp 10-20% trong UTP KTBN và một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân có bệnh phổi lành tính hoặc một số bệnh ác tính khác của tụy, dạ dày, vú.
- Ngược lại, mức NSE tăng gấp đôi bình thường nghĩ đến ung thư phổi tế bào nhỏ (UTP TBN) hoặc u thần kinh nội tiết.
- Độ nhạy của NSE trong UTP TBN từ 50-80%, liên quan đến sự tiến triển của khối u
Pro-gastrin-releasing Peptide (ProGRP):
-
Là tiền thân của hormon giải phóng gastrin. Nồng độ trong huyết thanh người bình thường < 50 pg/ml.
-
Độ đặc hiệu của ProGRP cao và chỉ có suy thận mới sinh ra mức tăng có ý nghĩa của dấu ấn này trong huyết thanh.
- Ngoài suy thận, dưới 5% bệnh nhân có bệnh lành tính hoặc ác tính, không kể UTP hoặc u thần kinh nội tiết có tăng ProGRP >50pg/ml.
- Nồng độ ProGRP liên quan chặt chẽ với týp UTP, tăng cao nhất ở bệnh nhân UTPTBN.
- Độ nhạy của ProGRP từ 40-60% ở UTP TBN giai đoạn khư trú và từ 75-85% ở giai đoạn tiến triển.
- Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy ProGRP có độ nhạy cao hơn NSE ở bệnh nhân UTPTBN giai đoạn khư trú.
- Tuy nhiên, khi kết hợp với NSE làm tăng độ nhạy và độ đặc hiệu trong chẩn đoán, tiên lượng, theo dõi và chẩn đoán sớm tái phát.
Carcinoembryonic Antigen (CEA):
- CEA là một glycoprotein với trọng lượng phân tử 180kDa, là kháng nguyên ung thư bào thai sinh ra trong quá trình phát triển của bào thai và thai nhi.
- Giá trị bình thường trong huyết thanh < 5ng/ml.
- Nồng độ CEA tăng nhẹ dưới 10ng/ml gặp 5-10% ở những người hút thuốc và một số bệnh lành tính khác như gan và thận (<20ng>
Cytokeratin-19 Fragment (Cyfra 21-1):
- Cyfra 21-1 là Cytokeratin-19 Fragment hòa tan trong nước.
- Giá trị bình thường trong huyết thanh < 3,3 ng/ml.
- Cyfra 21-1 tăng cao trong UTP. Mức tăng nhẹ (>3,3ng/ml) của dấu ấn này thấy ở một số bệnh lành tính như bệnh gan và suy thận, trong một số bệnh ác tính ngoài phổi khác như phần phụ, tuyến tiêu hóa, u trung biểu mô màng phổi, đường tiết niệu.
- Tuy nhiên, nồng độ Cyfra 21-1 tăng cao nhất trong UTP, chủ yếu UTP KTBN. Khi so sánh với các dấu ấn ung thư khác, một số tác giả cho rằng Cyfra 21-1 là dấu ấn ung thư nhạy nhất trong UTP, với nồng độ cao nhất trong UTP dạng biểu bì.
- Độ nhạy của Cyfra 21-1 từ 30-75% trong UTP KTBN và từ 20-60% trong UTP TBN. Cyfra 21-1 rất có giá trị trong chẩn đoán, tiên lượng (chủ yếu UTP KTBN), chẩn đoán sớm tái phát và theo dõi điều trị.
Squamous Cell Carcinoma Antigen (SCC):
- Là một prrotein có trọng lượng 48kDa.
- Ứng dụng lâm sàng của dấu ấn này chủ yếu trong các u biểu bì có nguồn gốc khác nhau: cổ tử cung, thực quản, đầu, cổ và phổi. Nồng độ trong huyết thanh người bình thường <1,9 ng/ml.
- Kết quả dương tính giả chủ yếu gặp trong suy thận và rối loạn sắc tố da, có khi gấp 30-40 lần giá trị bình thường.
- Độ nhạy của SCC trong UTPKTBN từ 25-60% nhưng rất thấp ở UTPTBN (<5%), cao nhất trong UTP dạng biểu bì.
- Một trong những ứng dụng quan trọng nhất của SCC trong UTP là chẩn đoán týp ung thư, ngoài ra nó còn có ý nghĩa như một yếu tố tiên lượng, chẩn đoán sớm tái phát và theo dõi tiến triển của bệnh.
Tissue Polypeptide Antigen (TPA):
- Là dấu ấn có bản chất hóa học được Bjorklund B và Bjorklund V phát hiện năm 1957, gồm 4 tiểu phân protein (A1, B1, B2, C) với trọng lượng phân tử 20.000-40.000 Da.
- Tiểu phân chính B1 được tìm thấy trong tổ chức phôi thai ở tuần thứ 10, 17 và 24.
- Nồng độ trong huyết thanh người bình thường < 80U/l.
- Nồng độ TPA tăng nhẹ trong một số bệnh lành tính như nhiễm khuẩn, virus, viêm gan cấp và bệnh tự miễn; tăng cao hơn trong một số bệnh ác tính của vú, phổi, dạ dày, đại tràng, tụy, bàng quang, tiền liệt tuyến, u lympho.
- Trong UTP, nồng độ TPA trước điều trị liên quan đến cả kích thước u, hạch di căn và di căn xa. Sau điều trị nồng độ TPA giảm dần.
- Độ nhạy của TPA trong UTP KTBN từ 36-82%. TPA tăng cao ở bệnh nhân UTPKTBN (đặc biệt UTP dạng biểu bì) hơn là UTP TBN.
Nguồn: Bệnh viện 108
Chăm sóc bệnh nhân ung thư sau hóa trị như thế nào?
Đương đầu với hành trình hóa trị ung thư không chỉ là sự khó khăn của người bệnh mà còn là thử thách với người thân. Làm thế nào để chăm sóc bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người bệnh vượt qua những mệt mỏi về sức khỏe lẫn trở ngại tinh thần?
- 0 trả lời
- 1067 lượt xem
Ngày càng nhiều phụ nữ, cũng như một số ít nam giới (nhưng số lượng tăng dần) sử dụng thuốc nhuộm tóc. Có lẽ bạn từng nghe những lời đồn thổi về việc thuốc nhuộm tóc gây ung thư? Không ít các nghiên cứu coi thuốc nhuộm tóc như một yếu tố rủi ro có thể dẫn tới nhiều loại bệnh ung thư. Bài viết dưới đây sẽ thảo luận về những điều mà nghiên cứu chỉ ra để chúng ta có thể yên tâm đưa ra quyết định.
Ung thư buồng trứng xảy ra khi tế bào không bình thường phát triển trong một hoặc cả hai buồng trứng của bạn. Buồng trứng là hai tuyến nhỏ, nằm ở hai bên tử cung.
Quan hệ tình dục là một nhu cầu sinh lý bình thường ở tất cả mọi người bao gồm cả những bệnh nhân ung thư. Vậy bệnh nhân ung thư thường có những vấn đề gì khi quan hệ tình dục, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





