Cơn tăng huyết áp cấp cứu và một số điều cần biết - Bệnh viện 108
Tăng huyết áp:
- Là bệnh cảnh lâm sàng thường gặp, và là yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh lý mạch vành, mạch máu não.
- Cơn tăng huyết áp (hypertensive crisis) là khi huyết áp tăng lên nhanh chóng và nghiêm trọng (huyết áp tâm thu ≥ 180 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 120 mmHg), có thể gặp ở 1-3% những bệnh nhân tăng huyết áp mạn tính.
- ồm 2 thể lâm sàng: cơn tăng huyết áp cấp cứu và tăng huyết áp khẩn trương.
Cơn tăng huyết áp cấp cứu:
- Tăng huyết áp cấp cứu là tăng huyết áp nghiêm trọng (huyết áp tâm thu ≥ 180mmHg, và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 120mmHg), có kèm theo tổn thương cơ quan đích mới xuất hiện hoặc nặng hơn.
- Tổn thương cơ quan đích thường gặp là: Bệnh não tăng huyết áp, xuất huyết nội sọ, đột quỵ thiếu máu não, nhồi máu cơ tim cấp, suy thất trái cấp tính kèm phù phổi, đau ngực không ổn định, phình tách động mạch chủ, suy thận cấp và sản giật.
- Thuốc lý tưởng để điều trị tăng huyết áp là phải khởi phát nhanh, hiệu lực mạnh, hồi phục nhanh chóng, không gây nhịp nhanh, ít tác dụng phụ.
- Một số thuốc truyền tĩnh mạch thường được dùng hiện nay: Sodium nitroprusside, nicardipine, nitroglycerine, labetalol, hydralazine...
Tăng huyết áp khẩn trương:
- Tăng huyết áp khẩn trương là tình huống lâm sàng có huyết áp tăng cao kịch phát (HATT ≥ 180mmHg hoặc HATTr ≥ 120mmHg), nhưng không có bằng chứng tổn thương cơ quan đích.
- Điều trị tăng huyết áp khẩn trương thường là dùng thuốc uống và hạ huyết áp từ từ trong 24 - 48 giờ, huyết áp cần hạ từ từ
- Điều quan trọng là không được dùng thuốc gây hạ huyết áp mạnh, đột ngột có thể gây tổn thương đáng kể do giảm tưới máu.
Nguồn: Bệnh viện 108
Khi huyết áp đột ngột tăng lên trên 180/120 mmHg thì được gọi là cơn tăng huyết áp. Khi tình trạng này đi kèm các triệu chứng mới, nhất là các triệu chứng về mắt, não, tim hoặc thận thì được gọi là cơn tăng huyết áp cấp cứu hay tăng huyết áp ác tính.
Furosemide là một loại thuốc kê đơn được sử dụng để điều trị tăng huyết áp và phù nề do suy tim sung huyết, bệnh thận và xơ gan.
Hydralazine là thuốc điều trị tăng huyết áp. Thuốc có hai dạng bào chế là dạng viên nén và dạng thuốc tiêm. Hydralazine có thể được dùng một mình hoặc kết hợp với các loại thuốc hạ huyết áp khác. Các tác dụng phụ thường gặp là đau đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, tim đập nhanh và đau ngực.
Verapamil là một loại thuốc giúp hạ huyết áp. Loại thuốc này có thể gây chóng mặt hoặc buồn ngủ, vì vậy không nên lái xe sau khi dùng thuốc. Ngoài ra, thuốc còn có các tác dụng phụ khác.
Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Có nhiều phương pháp điều trị có thể giúp kiểm soát huyết áp, gồm có thay đổi lối sống và dùng thuốc. Phác đồ điều trị tăng huyết áp thường gồm có sự kết hợp giữa dùng thuốc và thay đổi lối sống. Mục tiêu là đưa huyết áp về mức khỏe mạnh.





