Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập151
  • Máy chủ tìm kiếm85
  • Khách viếng thăm66
  • Hôm nay1,485
  • Tháng hiện tại1,878,635
  • Tổng lượt truy cập39,306,257

Cập nhật mới về điều trị tiệt trừ nhiễm Helicobacter pylori (Tháng 4-2011)- Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng so sánh hiệu quả của 2 phác đồ cứu nguy, sau thất bại với phác đồ bộ ba tiêu chuẩn.

Đề kháng kháng sinh với amoxicillin trong điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori bước 2 ít gặp hơn so với metronidazole.

Các tác giả Wu DC, Hsu PI, Tseng HH, Tsay FW, Lai KH, Kuo CH, Wang SW, Chen A (Baltimore, Mỹ) đã tiến hành một nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng để so sánh hiệu quả của phác đồ điều trị cứu nguy bộ 4 tiêu chuẩn với một phác đồ mới có sử dụng metronidazole cho những bệnh nhân đã thất bại trong lần điều trị tiệt trừ đầu tiên.

Các tác giả chỉ định ngẫu nhiên 120 bệnh nhân (đã thất bại trong tiệt trừ H. pylori bằng phác đồ sử dụng ức chế bơm proton với clarithromycin và amoxicillin) để dùng phác đồ cứu nguy trong thời gian 1 tuần bao gồm esomeprazole, bismuth subcitrate, tetracycline kết hợp thêm với metronidazole (nhóm EBTM, n = 62), hoặc amoxicillin (nhóm EBTA, n = 58).

Nội soi dạ dày được thực hiện 8 tuần sau khi chấm dứt điều trị để đánh giá đáp ứng. Các tác giả cũng đồng thời xem xét và phân tích sự đề kháng với kháng sinh liên quan đến genotypes CYP2C19. Phân tích theo ý định điều trị (intention-to-treat) cho thấy nhóm EBTA có tỷ lệ tiệt trừ thấp hơn đáng kể so với nhóm EBTM (lần lượt là 62% so với 81%, p = 0.02).

Phân tích theo protocol (per-protocol) cũng cho thấy các kết quả tương tự (64% so với 83%, p = 0.01). Tuy nhiên, nhóm EBTA ít gặp các tác dụng phụ của thuốc hơn so với nhóm EBTM (19% so với 44%, p<0.01). Việc tuân thủ điều trị đều tốt cho cả hai nhóm (97%).

Các xét nghiệm kháng sinh đồ cho thấy tần xuất của các chủng đề kháng với amoxicillin thấp hơn nhiều so với các chủng đề kháng metronidazole (lần lượt là 0% so với 54%), và không có khác biệt nào đáng kể giữa tỷ lệ tiệt trừ H. pylori với sự đề kháng kháng sinh.

Kết Luận: 

Trong điều trị cứu nguy bước 2, phác đồ điều trị bộ 4 EBTA có tỷ lệ tiệt trừ thành công thấp hơn so với phác đồ tiêu chuẩn EBTM.

Sự khác biệt giữa nhạy cảm kháng sinh in vitro và in vivo trong đáp ứng với tiệt trừ có thể do tương tác giữa các kháng sinh khi phối hợp chung với nhau, hoặc do những nguyên nhân khác chưa được biết rõ, vì thế không nên xem nhẹ vấn đề này trong việc điều trị tiệt trừ H. pylori.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây