Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập185
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm61
  • Khách viếng thăm123
  • Hôm nay35,810
  • Tháng hiện tại1,638,420
  • Tổng lượt truy cập39,066,042

Các bệnh lý giác mạc bẩm sinh - bệnh viện 103

1. Bệnh lý giác mạc do hở mi

Gây ra do mi mắt nhắm không kín mỗi khi chớp mi làm cho bề mặt giác mạc không được làm ướt đầy đủ bởi phim nước mắt, kể cả khi sự chế tiết nước mắt hoàn toàn bình thường.

Nguyên nhân bao gồm hở mi do liệt thần kinh VII, lồi mắt nhiều hoặc sẹo dúm mi. Một số người có tật mắt nhắm không kín khi ngủ cũng có thể gây tổn hại giác mạc mà không cần có bất kỳ bệnh lý nào ở trên.

Triệu chứng có thể rất khác nhau từ nhẹ như chấm nông biểu mô giác mạc đến nặng hơn như loét có tân mạch giác mạc, nhiễm khuẩn hoặc thủng giác mạc.

Điều trị:

  • Trong những trường hợp nhẹ có thể khỏi bằng việc tra nước mắt nhân tạo ban ngày, tra mỡ kháng sinh và băng ép mắt vào buổi tối..
  • Nếu tổn thương vẫn tồn tại dai dẳng sau các phương pháp điều trị trên thì cần phải đặt vấn đề phẫu thuật khâu cò mi.

2. Bệnh  lý giác mạc do liệt thần kinh

Xảy ra trên mắt mất cảm giác giác mạc. Mặc dù cơ chế gây bệnh chưa rõ ràng nhưng vai trò của thần kinh cảm giác giác mạc rất quan trọng trongviệc duy trì sự lành lặn của biểu mô giác mạc. Khi mất vai trò của thần kinh cảm giác, giác mạc trở nên phù nề, các tế bào biểu mô bị bong do rối loạn chuyển hóa.

Nguyên nhân: 

Có thể do bệnh mắc phải tác động lên dây thần kinh số V như viêm giác mạc do virus herpes, zona, đái tháo đường hay bệnh phong; hoặc cũng có thể bẩm sinh không di truyền gia đình như hội chứng Riley-Day…

Cũng có người mắc bệnh sau khi được phẫu thuật cắt bỏ hạch thần kinh số V để điều trị chứng chảy mồ hôi tay.

Triệu chứng: 

Khi nặng khi nhẹ, có bệnh nhân có biểu hiện nặng ngay từ đầu nhưng cũng có người bệnh kéo dài nhiều năm mới nặng lên. Ban đầu biểu hiện bằng những chấm bong biểu mô nông tập trung ở giác mạc vùng khe mi, sau đó tế bào biểu mô có màu trắng xám, trên giác mạc xuất hiện những ổ thẩm lậu nhỏ và phù.

Tình trạng biểu mô hóa chậm trễ khó khăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi khuẩn hoặc nấm cho giác mạc.

Điều trị: 

  • Về lý thuyết, cần điều trị nội khoa bằng thuốc gây sụp mi tạm thời (độc tố botulinum) tiêm vào cơ nâng mi trước khi phẫu thuật thần kinh trong 3 ngày. Nếu điều trị nội khoa không có kết quả, nên chỉ định khâu cò mi trong thời gian phẫu thuật thần kinh để bảo vệ  giác mạc.
  • Trong trường hợp đã có tổn thương giác mạc, cần sử dụng nước mắt nhân tạo phối hợp băng chặt mắt hoặc sử dụng kính tiếp xúc mềm loại có độ thẩm thấu khí cao có thể đeo suốt ngày.

3. Hội chứng trợt biểu mô giác mạc tái phát 

Xuất hiện khi sự kết dính bình thường giữa phức hợp biểu mô-màng cơ bản và lớp nhu mô bên dưới bị kém đi dẫn đến việc biểu mô không bám chặt vào nhu mô và dễ bị tróc ra. Hội  chứng này thường gặp ở những trường hợp chấn thương bề mặt giác mạc và một số bệnh lý giác mạc có tính loạn dưỡng.

Triệu chứng lâm sàng: 

  • Bệnh nhân đột ngột có triệu chứng đau nhức mắt, chói chảy nước mắt và sợ ánh sáng.
  • Trong những trường hợp nhẹ, các triệu chứng sẽ tự qua khỏi trong vòng vài giờ, còn ở những trường hợp nặng thì có thể kéo dài dai dẳng hàng tháng, thậm chí hàng năm ảnh  hưởng rất nhiều tới cuộc sống của bệnh nhân.
  • Về thực thể, ở giai đoạn cấp trên giác mạc có vết trợt biểu mô bắt màu với fluorescein. Cần khám kỹ mắt bên kia để tìm biểu hiện của loạn dưỡng Cogan.

Điều trị:

  • Giai đoạn cấp tính: băng chặt mắt trong 24 giờ phối hợp với tra thuốc liệt thể mi nhẹ và kháng sinh phòng bội nhiễm có hiệu quả tốt ở hầu hết các trường hợp nhẹ.
  • Bóc bỏ biểu mô cần được chỉ định trong những trường hợp nặng trong đó biểu mô loạn dưỡng nặng và mất tính kết dính. Sau khi gây tê bề mặt giác mạc, dùng tăm bông ẩm thấm trên bề mặt vùng giác mạc kém kết dính và phần biểu mô ốm yếu sẽ bị bong ra. Sau đó dùng miếng xốp collagen chà nhẹ lên vùng bệnh lý và dùng pince rút chỉ gắp bỏ những mảnh biểu mô tróc ra. Cuối cùng băng chặt mắt.
  • Điều trị dự phòng nhằm tránh sự tái phát ở những bệnh nhân đã tái phát nhiều lần. Đối với những trường hợp nhẹ chỉ cần tra nước mắt nhân tạo 4 lần/ ngày trong thời gian khoảng 2 tháng.

Khi điều trị bằng nước mắt nhân tạo không có hiệu quả nên chỉ định cho bệnh nhân đeo kính tiếp xúc mềm (loại chứa ít nước) và đeo trong thời gian 2 tháng đến khi biểu mô tái tạo hoàn toàn. Đối với những trường hợp nặng gây sẹo đặc biệt là những loạn dưỡng màng cơ bản nên chỉ định gọt giác mạc lớp nông bằng excimer laser hoặc dao tròn.

4. Viêm giác mạc chấm nông Thygeson

Là bệnh khá hiếm gặp, xảy ra ở cả hai mắt với những những chấm tròn hoặc oval đẩy gồ biểu mô giác mạc lên. Đôi khi tổn thương kèm theo thẩm lậu đục nhẹ giác mạc xung quanh nhưng kết mạc không bị ảnh hưởng.

Điều trị chủ yếu nhằm làm giảm triệu chứng khi bệnh trầm trọng với nước mắt nhân tạo là chủ yếu, steroids tra tại chỗ cũng có hiệu quả tốt mặc dù không được dùng kéo dài do những biến chứng trên nhãn cầu. Một số trường hợp không còn đáp ứng với steroid đôi khi cần chỉ định đeo kính tiếp xúc mềm.

5. Các dị thường giác mạc bẩm sinh

5.1. Giác mạc nhỏ 

Là tình trạng hiếm gặp, có thể ở một mắt hoặc hai mắt trong đó giác mạc ở người trưởng thành có đường kính bằng hoặc nhỏ hơn 10mm, tiền phòng nông nhưng các phần khác bình thường.

Bệnh nhân có thể có các tổn thương khác kèm theo tại mắt như glôcôm, bất thường mống mắt, giác mạc phẳng, sẹo xơ giác mạc, nhãn cầu nhỏ hoặc các hội chứng toàn thân như Turner, Weill- Marchesani, Waardenburg…

5.2. Xơ hoá giác mạc (sclerocornea) 

Cũng là một tình trạng hiếm gặp thường ở cả hai mắt với đặc điểm vùng rìa hoặc toàn bộ giác mạc bị xâm lấn bởi tổ chức xơ của củng mạc và tân mạch. Trong trường hợp chỉ vùng rìa giác mạc bị xâm lấn sẽ làm giác mạc nhỏ lại.

5.3. Giác mạc to (megalocornea) 

  • Là hiện tượng hiếm gặp xảy ra ở cả hai mắt, di truyền giới tính lặn. Đường kính giác mạc 13 mm hoặc lớn hơn, tiền phòng rất sâu trong khi nhãn áp bình thường.
  • Bệnh nhân thường có cận – loạn thị cao nhưng thị lực còn tốt. Bệnh nhân có thể có lệch thể thủy tinh do dây chằng Zinn bị kéo dãn. Ngoài bất thường ở mắt, bệnh nhân có thể có kèm theo các hội chứng toàn thân như Marfan, Apert, Down, ung thư võng mạc hoặc trì độn tinh thần…

5.4. Giác mạc phẳng 

Là trạng thái giác mạc giảm độ cong trầm trọng, viễn thị nặng và tiền phòng rất nông. Bệnh nhân có thể có biến chứng glôcôm và kèm theo các tổn thương khác tại mắt như giác mạc nhỏ, xơ hóa giác mạc, hội  chứng Peters hay nhãn cầu nhỏ.

5.5. Dãn phình giác mạc (keratectasia) 

Là tổn thương hiếm gặp, thường ở một mắt, được biểu hiện bằng giác mạc đục trắng và dãn phình nhô ra ngoài khe mi. Người ta cho rằng tình trạng này là hậu quả của quá trình viêm giác mạc bị thủng từ trong bào thai.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây