Bệnh do vi khuẩn dịch hạch - bệnh viện 103
Dịch hạch là một bệnh của động vật lây sang người do Y. pestis gây ra. Môi giới trung gian truyền bệnh là bọ chét, chủ yếu là loài Xenopsylla cheopis.
- Đại dịch thứ nhất xảy ra vào cuối thế kỷ thứ VI làm chết gần 100 triệu người.
- Đại dịch thứ hai xảy ra vào thế kỷ thứ XIV, làm chết 25 triệu người châu Âu và 40 triệu người châu Á và châu Phi.
- Đại dịch thứ ba xuất phát từ Hồng Kông năm 1898, lan ra hơn 60 thành phố cảng trên khắp các lục địa. Trong vụ dịch này, Yersin đã phân lập được vi khuẩn gây bệnh, đánh dấu bước ngoặt trong nghiên cứu và chẩn đoán bệnh dịch hạch. Ở Việt Nam, vi khuẩn dịch hạch vẫn tồn tại trên một số loài gặm nhấm khu vực Tây Nguyên.
1. Đặc điểm sinh học
1.1. Hình thể
Y. pestis có hình bầu dục hoặc trực khuẩn ngắn, kích thước 0,5 – 0,8 x 1 – 2mm, thường đứng đơn, đôi và có thể chuỗi ngắn nếu phát triển ở môi trường lỏng. Không sinh bào tử, không lông, không di động, có vỏ khi phát triển trong cơ thể người hoặc khi nuôi trên động vật thực nghiệm. Gram âm, đậm ở hai cực. Đặc điểm bắt màu đậm ở hai cực càng rõ nếu nhuộm Wright-Giemsa hoặc Wayson.
1.2. Nuôi cấy
Y. pestis mọc được trên các môi trường nuôi cấy thông thường nhưng mọc chậm nếu để ở 35 – 37oC; nhiệt độ nuôi cấy thích hợp nhất là 28oC, khuẩn lạc được hình thành sau 48 giờ ở 28oC, đường kính 1 – 1,5 mm, bờ mỏng không đều, bề mặt có thể nhẵn hoặc xù xì, màu xám nhạt hoặc vàng sáng, trung tâm khuẩn lạc lồi giống hình dạng trứng ốp-lết. Cấy máu tìm vi khuẩn cần để ở nhiệt độ 22 – 28oC. Trên môi trường lỏng, Y. pestis lúc đầu mọc làm đục môi trường sau đó tạo thành những đám giống như bông (flocculant) hoặc hình nhũ đá (stalactite).
1.3. Khả năng đề kháng
Y. pestis tồn tại ở ngoại cảnh vài ngày trong điều kiện tối và ẩm. Trong môi trường bảo quản thích hợp ở 4oC, Y. pestis có thể sống tới 10 năm. Tuy nhiên chúng cũng dễ bị diệt bởi các hóa chất khử trùng thông thường và các yếu tố vật lý. Y. pestis bị diệt ở 100oC/1 phút, 60oC/ 30 phút.
1.4. Kháng nguyên và các yếu tố độc lực
Kháng nguyên của Y. pestis có nhiều loại và nhiều kháng nguyên biểu hiện như một yếu tố độc lực. Trong đó KN protein vỏ ngoài được ký hiệu F1 (Fraction I) là một yếu tố độc lực quan trọng giúp Y. pestis chống lại các tế bào thực bào và được ứng dụng trong chẩn đoán phát hiện vi khuẩn dịch hạch. Ở các chủng hoang dại còn có KN V, W cũng mang tính độc được mã hóa bởi các gen nằm trên plasmid.
Y. pestis còn sản sinh ra enzym coagulase ở 28oC nhưng không xuất hiện ở 35oC. Ngoài ra chúng còn sản sinh ra pesticin và một protein độc tố làm chết chuột ở liều 1mg.
2. Khả năng gây bệnh
Y. pestis có khả năng gây bệnh cho nhiều loài động vật khác nhau. Mầm bệnh luân chuyển trong tự nhiên giữa các loài gặm nhấm hoang dại. Môi giới trung gian truyền bệnh là bọ chét.
Bọ chét ký sinh trên chuột, hút máu để sống. Y. pestis khi xâm nhập vào bọ chét sẽ phát triển ở dạ dày và ruột của bọ chét, tiết ra coagulase tạo thành khối kết dính gây tắc nghẽn môn vị dần dần rồi tắc nghẽn hoàn toàn khiến bọ chét không hấp thụ được thức ăn. Do hấp thụ giảm dần, bọ chét đói càng hút máu nhiều lần. Nhưng do môn vị bị tắc nghẽn nên máu từ dạ dày bọ chét có vi khuẩn trào ngược vào cơ thể vật chủ.
Người nhiễm bệnh do bị bọ chét có mầm bệnh đốt gây nên bệnh cảnh dịch hạch thể hạch là thể phổ biến nhất. Sau thời gian ủ bệnh 2 – 7 ngày, bệnh nhân sốt cao, đau hạch lympho, các hạch đau và sưng to dần, đặc biệt là hạch ở bẹn và nách. Thể này nếu không điều trị kịp thời thì tỷ lệ tử vong là 50%. Ngoài ra còn 2 thể lâm sàng khác là thể phổi và thể nhiễm trùng huyết.
Thể phổi là hậu quả lây qua đường hô hấp từ những hạt nhỏ li ti do bệnh nhân ho, hắt hơi bắn ra. Thể nhiễm trùng huyết là biến chứng tiếp theo của thể phổi, và một số trường hợp là biến chứng từ thể hạch chuyển thành. Hai thể này có bệnh cảnh lâm sàng nặng, tử vong gần như 100% nếu không được điều trị kịp thời.
3. Các phương pháp chẩn đoán vi khuẩn dịch hạch
3.1. Bệnh phẩm
– Bệnh phẩm từ người bệnh:
- Đường hô hấp (dịch hạch thể phổi): nên lấy dịch hút ở khí quản, phế quản; hạn chế dùng bệnh phẩm đờm vì lẫn nhiều tạp khuẩn.
- Máu (thể nhiễm trùng máu): thể tích và số lần lấy theo thường qui labo.
- Dịch tiết từ hạch viêm hoặc bệnh phẩm sinh thiết (thể hạch):
Bảo quản theo nguyên tắc bảo quản bệnh phẩm tối nguy hiểm (bảo quản 3 lớp), gửi ngay đến phòng xét nghiệm.
–Vật phẩm từ môi trường: Bọ chét, Không khí: dùng máy lấy mẫu,Thực phẩm,đất, nước. . .
3.2. Các phương pháp chẩn đoán
– Chẩn đoán nhanh:
- Nhuộm Gram hoặc Wayson
- Nhuộm kháng thể huỳnh quang trực tiếp:Đây là phương pháp chẩn đoán nhanh có độ nhậy cao. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có kính hiển vi huỳnh quang và kháng thể dịch hạch gắn huỳnh quang.
- Phát hiện kháng nguyên F1 trong bệnh phẩm:Kỹ thuật này đang được phát triển theo 2 hướng: ELISA gắn kháng thể ở pha rắn để tìm F1 trong bệnh phẩm và ngưng kết hồng cầu thụ động.
- ELISA phát hiện kháng nguyên F1
- Phản ứng ngưng kết hồng cầu phát hiện kháng nguyên F1
– Nuôi cấy:
– PCR:
4. Phòng bệnh và điều trị
4.1. Phòng bệnh
- Phun thuốc diệt bọ chét. Nếu phát hiện bệnh nhân cần cách ly điều trị ngay, tổ chức tiêm phòng trong khu vực nghi có dịch và uống kháng sinh dự phòng cho nhân viên y tế và những người tiếp xúc với bệnh nhân, mầm bệnh.
- Hiện nay đã có vaccin dự phòng dịch hạch hiệu quả bảo vệ 6 tháng với vaccine chết, 12 tháng với vaccin sống. Vaccin nên được tiêm phòng cho những người đi công tác vào vùng có dịch.
- Cách ly bệnh nhân.
4.2. Điều trị
Điều trị tích cực. Kháng sinh lựa chọn là streptomycin, kháng sinh thay thế là tetracyclin. Ở những labo trung tâm cần tiến hành làm kháng sinh đồ để phát hiện sự kháng thuốc của vi khuẩn dịch hạch.
Nguồn: Bệnh viện 103





