1

Adenovirrus - bệnh viện 103

Adenovirus được phân lập lần đầu năm 1953 từ các mảnh hạch hạnh nhân và tổ chức tuyến được cắt bỏ sau khi phẫu thuật. Đến nay người ta biết khoảng trên 100 type, có 47 type gây bệnh ở người và khoảng 60 type gây bệnh ở động vật. Trong tổng số 47 type gây bệnh ở người có 1/3 số type đã được xác định là căn nguyên gây bệnh nhiễm trùng Adenovirus ở người, một vài type được cho là nguyên nhân gây ung thư thực nghiệm trên động vật.

1. Đặc điểm sinh học

1.1. Hình thể, cấu trúc

Adenovirus là các virus có lõi là Adn, đường kính 80 -100 mm vỏ capsid có 252 capxome. Virus có cấu trúc hình khối đa diện với các mặt là hình tam giác đều, không có bao ngoài. Virus có chứa 13% là ADN và 87% là protein. Trọng lượng phân tử của ADN là 175ì166 Da. Vỏ capcid có các thành phần được gọi là hexon, penton và fiber. Hexon là capsome nằm ở mặt bên, các penton nằm ở đỉnh  (virus có 12 đỉnh), fiber là các sợi nhỏ nhỏ gắn vào các đỉnh và là một phần của penton.

ADN của virus là một sợi thẳng có chứa nhiều gen quy định type huyết thanh, bộ gen của virus có chứa 35.000 – 36.000 cặp base.

1.2. Phân loại

Adenovirus thuộc họ Adenoviridae chia ra làm hai nhóm chính là một nhóm gây bệnh ở chim là Aviadenovirus và nhóm gây bệnh ở động vật có vú (Mastadenovirus). Virus gây bệnh ở người chủ yếu thuộc nhóm Mastadenovirus. Người ta đã phân lập được 47 type Adenovirus ở người và một số loài động vật khác.

Adenovirus gây bệnh cho người được chia làm 6 nhóm ký hiệu A- F dựa vào đặc điểm sinh lý, sinh hoá và sinh học phân tử.

1.3. Nuôi cấy

Virus chỉ nuôi cấy được trên các tế bào có nguồn gốc từ người như tế bào thận phôi người, Hela, Hep-2.

1.4. Sức đề kháng

Adenovirus có thể tồn tại và gây bệnh được khá lâu ở ngoại cảnh, ở nhiệt độ phòng/30 ngày, 370C/15 ngày, 40C/ nhiều tháng, -200C/nhiều năm. Nước sôi 1000C, tia cực tím, cloramin dễ huỷ được virus, các dung môi hữu cơ như ete, aceton không diệt được virus.

1.5. Kháng nguyên

Các kháng nguyên quan trọng đều nằm trên vỏ capsid của virus

–   Kháng nguyên Hexon: là kháng nguyên đặc hiệu chung cho tất cả các Adenovirus. Đây là kháng nguyên kết hợp bổ thể .

–   Kháng nguyên trung hoà: nằm trên penton và fiber đặc hiệu cho từng type. Kháng nguyên này có khả năng giúp virus bám vào các bề mặt tế bào mà chúng ký sinh.

–   Kháng nguyên NKHC: nằm trên fiber giúp cho virus có khả năng gây ngưng kết hồng cầu. Kháng nguyên này đặc hiệu cho các type khác nhau và phản ứng NKHC được dùng để phân type Adenovirus.

2. Khả năng gây bệnh của Adenovirus

Adenovirus có thể gây bệnh ở nhiều cơ quan khác nhau trên cơ thể như đường hô hấp, đường tiêu hoá, mắt, tiết niệu và ở gan. Trong số 6 nhóm gồm 47 type huyết thanh gây bệnh đã biết, nhóm B là nhóm có khả năng gây bệnh nhiều và hay gặp nhất. Nhiễm Adenovirus thường là nhiễm một type, nhiễm Adenovirus chiếm khoảng 5% nhiễm virus hô hấp cấp tính ở trẻ em, virus này còn thường gặp trong bệnh lý nhiễm virus ở mắt và đường tiêu hoá.

2.1. Viêm đường hô hấp do Adenovirus

– Viêm họng cấp: thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ với các biểu hiện sốt sưng họng, ho và chảy nước mũi. Chẩn đoán thường khó phân biệt với các nhiễm virus khác. Bệnh thường do Adenovirus nhóm C gây ra.

– Viêm họng kết mạc: triệu chứng giống viêm họng nhưng kèm thêm viêm kết mạc thành dịch ở  người trẻ tuổi và trẻ em. Bệnh lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp, đặc biệt là lây qua nước ở bể bơi vào mùa hè. Bệnh do virus nhóm B, các type 3, 7, 1.

– Viêm cấp tính đường hô hấp: biểu hiện bằng viêm họng, sốt, ho. Bệnh diễn biến  cấp tính, khỏi nhanh sau 3 – 4 ngày, chủ yếu ở trẻ nhỏ. Các type gây bệnh là 3, 4, 7.

– Viêm phổi: Chủ yếu là type 3 và 7, chiếm tỷ lệ 10% viêm phổi cấp ở trẻ nhỏ. Viêm phổi do Adenovirus có tỷ lệ tử vong 8- 10%.

2.2. Viêm kết mạc mắt (bệnh đau mắt đỏ thành dịch)

Còn gọi là bệnh bể bơi “swimming pool” do dễ lây qua nước ở bể bơi vào mùa hè. Bệnh dễ dàng phát triển thành dịch biểu hiện viêm cấp tính kết giác mạc, dễ bị bội nhiễm nếu không can thiệp kịp thời. Bệnh này chủ yếu là virus nhóm B đặc biệt là type 3, 7.

2.3. Bệnh viêm dạ dày  – ruột

Một số type Adenovirus gây bệnh đường tiêu hoá với biểu hiện viêm dạ dày và ruột cấp tính, virus được đào thải trong phân và là nguồn lây chủ yếu. Type 40 và 41 gây bệnh dạ dày ruột, chúng chiếm 5 – 15 % các trường hợp. Một số tác giả còn mô tả các virus nhóm C cũng chiếm một tỷ lệ nhất định.

2.4. Các bệnh khác

Các type 11 và 12 có thể là nguyên nhân gây viêm bàng quang chảy máu ở trẻ em, nhất là trẻ em trai. Virus thường thấy trong nước tiểu của những bệnh nhân này. Type 37 thấy ở niệu đạo, tử cung và được coi là lây truyền qua đường tình dục.

Miễn dịch sau nhiễm Adenovirus

Sau khi khỏi bệnh, bệnh nhân có miễn dịch với Adenovirus với hiệu quả cao và kéo dài với cùng type mắc bệnh nhưng không có khả năng bảo vệ với các type khác.

3. Chẩn đoán

Bệnh phẩm

Bệnh phẩm cần được thu thập từ cơ quan bị tổn thương hoặc nơi virus cư trú. Trên lâm sàng bệnh phẩm có thể lấy là phân, nước tiểu, dịch họng, kết mạc, tăm bông trực tràng.

Phân lập và xác định virus

– Bệnh phẩm sau khi đã xử lý được nuôi cấy trên các tế bào có nguồn gốc từ người như tế bào thận phôi người, đây là tế bào mẫn cảm nhất với Adenovirus. Một số tế bào biểu mô khác như Hela, Hep-2 và KB cũng nhạy cảm nhưng khó áp dụng do phải nuôi cấy trong thời gian lâu (28 ngày) mới phát hiện được các chủng virus phát triển chậm. Khi thấy các tế bào có dấu hiệu co cụm lại, bong ra khỏi thành ống nghiệm, tế bào bị phình to và vỡ ra chứng tỏ virus đang nhân lên Adenovirus còn làm tăng glycolysis dẫn đến toan hoá môi trường nuôi tế bào .

– Việc xác định type Adenovirus dựa vào kháng thể huỳnh quang hoặc kiểm tra bằng thử nghiệm cố định bổ thể (CF) để xác định kháng nguyên đặc hiệu nhóm. Ngoài ra còn có thể dùng phản ứng ngưng kết hồng cầu để xác định type của virus. Các phương pháp chẩn đoán nhanh hơn được dựa vào kỹ thuật phát hiện vỏ virus trong ống nghiệm (“Shell vial” technique). Bệnh phẩm chứa virus được ly tâm trực tiếp trong ống tế bào nuôi. Nuôi cấy ống tế bào 1 – 2 ngày và thử phản ứng với kháng thể đơn dòng kháng vỏ virus (kháng nguyên nằm trên Hexon).

– Để xác định chắc chắn  Adenovirus thuộc các nhóm khác nhau, người ta sử dụng kỹ thuật PCR. Dùng bệnh phẩm là các dịch của cơ thể, sử dụng các cặp mồi là đoạn gen mã hoá cho các kháng nguyên đặc hiệu (Hexon, VA…) để phát hiện hầu hết các type của virus.

– Ngoài ra để phát hiện virus trong phân người ta có thể sử dụng kính hiển vi điện tử hoặc kỹ thuật ELISA.

Chẩn đoán huyết thanh

Khi bị nhiễm Adenovirus có sự tăng phức hợp kháng thể với kháng nguyên nhóm của Adenovirus. Thử nghiệm CF được sử dụng để phát hiện hầu hết các nhóm của Adenovirus. Hiệu giá kháng thể tăng lên 4 lần giữa giai đoạn nhiễm virus cấp và giai đoạn hồi phục trong máu bệnh nhân chứng tỏ bệnh nhân nhiễm loài Adenovirus tương ứng.

Có thể dùng phản ứng NCHC hoặc phản ứng trung hoà để phát hiện kháng thể đặc hiệu trong huyết thanh bệnh nhân khi có yêu cầu. Hiệu giá kháng thể của huyết thanh  tăng cao trên 4 lần sau 2 tuần thì có giá trị chẩn đoán.

4. Dự phòng và điều trị

Dự phòng

Hiện nay nghiên cứu chế tạo vaccine sống, giảm độc lực được bao phim, dùng dạng uống, có chứa các type 4 và 7 .

Điều trị

Dùng các thuốc diệt virus, ức chế tổng hợp acid nucleic của virus và thuốc tăng cường hệ thống miễn dịch.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Video có thể bạn quan tâm
Đi bệnh viện gấp nếu trẻ bị Tay Chân Miệng có biểu hiện giật mình chới với. Đi bệnh viện gấp nếu trẻ bị Tay Chân Miệng có biểu hiện giật mình chới với. 01:18
Đi bệnh viện gấp nếu trẻ bị Tay Chân Miệng có biểu hiện giật mình chới với.
Giật mình chới với là 1 trong 3 biểu hiện nặng điển hình của tay chân miệng, là dấu hiệu cho thấy bé đã bị.nhiễm độc thần kinh, nếu không điều trị...
 4 năm trước
 14200 Lượt xem

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây