Chúng tôi trên mạng xã hội

    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

Xơ vữa động mạch

 

Xơ vữa động mạch là làm cứng và làm hẹp các động mạch – âm thầm và từ từ làm tắc nghẽn động mạch, gây nguy cơ làm mạch máu bị tắc nghẽn.

Đây cũng là nguyên nhân thông thường của các cơn nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não và bệnh mạch máu ngoại vi - gọi chung là bệnh tim mạch.

Xơ vữa động mạch phát triển như thế nào? Ai sẽ bị và tại sao? Quá trình chết người này có thể hoàn toàn có thể ngăn ngừa và điều trị.

Nguyên nhân

Động mạch là các mạch máu đưa máu từ tim đến khắp cơ thể. Chúng được lót bởi một lớp mỏng các tế bào gọi là nội mô. Các tế bào nội mô hoạt động để giữ lòng động mạch luôn căng và trơn, giúp máu lưu thông.

Xơ vữa động mạch bắt đầu với tình trạng tổn thương nội mô, do huyết áp cao, hút thuốc, hoặc cholesterol cao. Sự tổn thương này dẫn đến hình thành mảng bám. Khi đó cholesterol xấu sẽ vượt qua lớp nội mô bị tổn thương này và xâm nhập vào thành động mạch, làm cho các tế bào bạch cầu của bạn tràn ra để cố gắng tiêu thụ cholesterol. Qua nhiều năm, cholesterol và tế bào trở thành mảng bám trong thành mạch.

Mảng xơ vữa tạo ra một lớp gồ trên thành động mạch. Khi chứng xơ vữa động mạch tiến triển, lớp gồ này sẽ lớn hơn. Khi nó đủ lớn, nó có thể tạo ra sự tắc nghẽn. Quá trình đó diễn ra trên toàn bộ cơ thể. Kết quả là không chỉ tim bạn bị nguy hiểm, mà bạn còn có nguy cơ bị đột qụy và gặp các vấn đề về sức khoẻ khác.

Xơ vữa động mạch thường không gây triệu chứng cho đến khi bạn đạt đến độ tuổi trung niên trở lên. Nhưng khi sự hẹp động mạch trở nên nghiêm trọng, nó có thể làm tắc nghẽn dòng máu và gây đau. Các khối tắc nghẽn cũng có thể đột ngột bị vỡ (rách), hình thành cục máu đông bên trong động mạch tại vị trí của vết rách.

Các cuộc tấn công của mảng xơ vữa

Các mảng xơ vữa động mạch có thể hoạt động theo những cách khác nhau.

Chúng có thể ở trong thành động mạch. Ở đó, mảng bám phát triển đến một kích thước nhất định và dừng lại. Vì mảng bám này không làm tắc dòng máu, nó không bao giờ gây ra các triệu chứng.

Mảng bám có thể phát triển một cách chậm rãi, có kiểm soát ở đường lưu thông máu. Cuối cùng, nó gây ra sự tắc nghẽn nghiêm trọng. Đau thắt ở ngực hoặc chân khi bạn gắng sức là triệu chứng thường thấy.

Điều tồi tệ nhất xảy ra khi các mảng xơ vữa đột ngột vỡ, cho phép hình thành cục máu đông ở động mạch. Nếu ở trong não, điều này sẽ gây ra tai biến mạch máu não, ở tim thì gây ra nhồi máu cơ tim.

Các mảng xơ vữa động mạch gây ra 3 loại bệnh tim mạch chính:

Bệnh động mạch vành: Các mảng bám ổn định trong động mạch của tim gây ra cơn đau thắt ngực (đau ngực). Nếu mảng xơ vữa bị rách, vỡ và cục máu đông hình thành sẽ khiến cơ tim bị chết, gây ra nhồi máu cơ tim

Tai biến mạch máu não: Các mảng xơ vữa vỡ trong các động mạch của não gây đột qụy với khả năng gây tổn thương não vĩnh viễn. Tình trạng tắc nghẽn tạm thời trong động mạch cũng có thể gây ra một vài thứ gọi là cơn thiếu máu não thoáng qua (TIAs), là dấu hiệu cảnh báo đột quỵ thực sự. Tuy nhiên, không có tổn thương não để lại ở TIAs.

Bệnh động mạch ngoại vi: Các mảng bám làm thu hẹp các động mạch ở chân gây ra tình trạng tuần hoàn kém. Điều này làm cho bạn rất đau khi bước đi. Nó cũng sẽ gây ra vết thương lâu lành (lâu liền). Bệnh nặng có thể dẫn đến phải cắt cụt.

Ai sẽ bị xơ vữa động mạch?

Sẽ dễ dàng trả lời hơn khi hỏi: Ai sẽ không mắc bệnh xơ vữa động mạch?

Căn bệnh này bắt đầu sớm. Trong cuộc khám nghiệm tử thi của các lính trẻ bị giết trong các cuộc chiến tranh của Hàn Quốc và Việt Nam, một nửa đến ¾ trường hợp có các dấu hiệu sớm về hình thành xơ vữa động mạch.

Ngay cả ngày nay, một số lượng lớn những người trẻ tuổi mà không có triệu chứng cũng có bằng chứng bị xơ vữa. Một nghiên cứu năm 2001 về 262 trái tim của những người dường như khỏe mạnh có thể khiến bạn ngạc nhiên khi:

  • Có đến 52% bị xơ vữa động mạch.
  • 85% trong số những người bị trên là hơn 50 tuổi.
  • 17% thanh thiếu niên đã mắc chứng bệnh này

Không ai có các triệu chứng và rất ít người có tình trạng hẹp động mạch nghiêm trọng. Đây là những dấu hiệu bệnh từ rất sớm, chỉ được phát hiện bằng các xét nghiệm đặc biệt.

Nếu bạn 40 tuổi và nhìn chung khỏe mạnh, bạn sẽ có khoảng 50% nguy cơ phát triển chứng xơ vữa động mạch nghiêm trọng trong cuộc đời. Rủi ro tăng lên khi bạn già đi. Hầu hết người lớn trên 60 tuổi bị xơ vữa động mạch nhưng thường không có triệu chứng đáng chú ý.

Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do chứng xơ vữa động mạch đã giảm 25% trong 3 thập kỷ qua. Điều này là do lối sống tốt hơn và phương pháp điều trị được cải thiện.

Phòng ngừa

Xơ vữa động mạch có thể trở nên tồi tệ hơn theo thời gian, nhưng cũng có thể ngăn ngừa. 9 yếu tố nguy cơ gây ra hơn 90% các cơn đau tim bao gồm:

  • Hút thuốc
  • Cholesterol cao
  • Huyết áp cao
  • Bệnh tiểu đường
  • Béo phì vùng bụng ("bụng phệ")
  • Căng thẳng stress
  • Không ăn trái cây và rau quả
  • Uống nhiều rượu (uống nhiều hơn 1 ly/1 ngày ở phụ nữ, 1 hoặc 2 ly/ngày đối với nam giới)
  • Không tập luyện, vận động thường xuyên

Bạn có thể nhận thấy tất cả những điều này đều có điểm chung đó là: Bạn có thể làm điều gì đó để thay đổi chúng. Các chuyên gia đồng ý rằng việc làm giảm những điều trên sẽ dẫn đến giảm tỷ lệ mắc bệnh tim mạch của bạn.

Đối với những người có nguy cơ mắc bệnh vừa phải hoặc cao hơn - những người đã bị nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não hoặc những người bị cơn đau thắt ngực – thì việc uống một viên aspirin mỗi ngày có thể rất quan trọng. Aspirin giúp ngăn ngừa hình thành cục máu đông. Hãy tham vấn bác sĩ của bạn trước khi bắt đầu, vì nó có thể có tác dụng phụ.

Điều trị

Một khi bạn đã có một khối tắc nghẽn nó sẽ thường ở lại đó. Mặc dù với việc uống thuốc và thay đổi lối sống, các mảng bám có thể bị chậm hoặc ngừng phát triển nhưng chúng thậm chí có thể chỉ co lại một chút với việc điều trị tích cực.

Thay đổi lối sống: Giảm các yếu tố nguy cơ dẫn đến chứng xơ vữa động mạch sẽ làm chậm hoặc ngừng quá trình phát bệnh. Điều này đồng nghĩa với việc thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục, và không hút thuốc. Những thay đổi này sẽ không loại bỏ hoàn toàn sự tắc nghẽn, nhưng chúng được chứng minh là làm giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ.

Thuốc: Dùng thuốc hạ cholesterol và thuốc điều trị huyết áp cao sẽ làm chậm và thậm chí có thể ngăn ngừa chứng xơ vữa động mạch. Chúng cũng có thể làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não.

Các bác sĩ có thể sử dụng kỹ thuật xâm lấn để mở các khối tắc nghẽn hoặc bắc cầu đi vòng qua khối xơ vữa:

Đặt stent dưới hướng dẫn của màn hình X-quang: Sử dụng một ống thông nhỏ luồn vào từ động mạch ở chân hoặc cánh tay, bác sĩ có thể tiếp cận vị trí động mạch trong cơ thể bị tổn thương. Các mảng xơ vữa có thể nhìn thấy trên màn hình chụp X-quang. Kỹ thuật nong mạch vành (sử dụng ống catheter với bóng) và đặt stent có thể nong, mở động mạch bị tắc nghẽn. Việc đặt stent giúp giảm các triệu chứng, mặc dù nó không ngăn ngừa các cơn nhồi máu cơ tim trong tương lai.

Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành: Các bác sĩ phẫu thuật sẽ lấy một mạch máu khỏe mạnh (thường là từ chân hoặc ngực). Họ sử dụng mạch máu khỏe mạnh này, nối vào để đi vòng quanh đoạn đoạn bị tắc nghẽn. Tuy nhiên những quy trình này có thể xảy ra biến chứng. Chúng thường cứu sống những người có các triệu chứng nặng hoặc cải thiện những hạn chế gây ra bởi chứng xơ vữa động mạch.

Thành viên
Chúng tôi trên Facebook