Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập342
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm56
  • Khách viếng thăm285
  • Hôm nay70,078
  • Tháng hiện tại2,136,008
  • Tổng lượt truy cập39,563,630

Virus Corona Sar - bệnh viện 103

1. Đại cương

1.1. Nguyên nhân

Nguyên nhân của bệnh là corona virus SARS hoặc SARS corona virus. Nguồn lây trong tự nhiên là loại dơi tai to ở Trung Quốc, quanh mũi có nhú thịt hình móng ngựa .

Dịch bùng nổ dữ dội vào tháng 3 năm 2003, lúc đầu ở Quảng Đông-Trung Quốc và lan sang Hồng Kông, Việt Nam, Singapore, Canada và nhiều quốc gia khác (29 quốc gia Châu á, Châu Âu, Bắc Mỹ). Dịch có đặc điểm lây lan nhanh chóng, tỷ lệ tử vong cao. Vụ dịch năm 2003 có 8.422 người mắc, tử vong 916 người (11%) .

Bệnh lây từ người sang người qua đường hô hấp. Tuy nhiên chất thải, rác thải từ bệnh nhân cũng có thể là nguồn lây nhiễm .

1.2. Cơ chế bệnh sinh

Hợp chất manoza gắn lecnin (manose blinding lectin  MBL) đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong cơ chế bảo vệ của cơ thể đối với các bệnh nhiễm trùng hô hấp. Các chuỗi hydrat cacbon giầu manose sẽ ức chế sự gắn kết của các thụ thể của tế bào biểu mô đường hô hấp với hemagglutinin của các virus, vi khuẩn .

Ngoài ra MBL còn có vai trò hoạt hoá hệ thống bổ thể (bổ thể C4) và làm tăng hiện tượng thực bào .

Người ta thấy bệnh nhân SARS thường có nồng độ MBL huyết thanh thấp hoặc không có, do đó dễ lấy bệnh hơn .

Vai trò của enzym angiotensin-converting cũng được đề cập. Rối loạn điều hoà enzym này gây ra những tổn thương phổi cấp tính .

Nồng độ virus trong máu cao nhất vào ngày thứ 10 sau khi nhiễm bệnh ở những trường hợp tử vong, 100% tìm thấy virus ở phổi; ngoài ra còn thấy với tỷ lệ cao ở ruột, gan, thận…

1.3. Giải phẫu bệnh lý

Hình ảnh phá hủy phế nang lan tỏa ở các mức độ khác nhau. Tổn thương phổi thay đổi theo giai đoạn bệnh .

– Ở pha sớm: thoái hóa hyalin màng nền, phù tổ chức kẽ và khoang phế nang .

– Ở pha tổ chức hóa: chủ yếu thấy tăng sinh nguyên bào sợi .

2. Lâm sàng và cận lâm sàng

Thời kỳ ủ bệnh kéo dài từ 2-7 ngày, có thể tới 12 ngày. Bệnh diễn biến qua hai giai đoạn (hai pha):

– Pha đầu: bệnh nhân có sốt, thường là trên 380C, có thể kèm theo rét run. Một số triệu chứng hay gặp khác là mệt mỏi, đau đầu, đau cơ. Một số bệnh nhân có tiêu chảy, viêm long đường hô hấp trên .

– Pha sau (còn gọi là pha hô hấp): suy hô hấp xuất hiện từ ngày thứ 3 tới ngày thứ 5 của bệnh. Triệu chứng thường gặp là ho khan, khó thở. Suy hô hấp thường tiến triển nặng lên nhanh chóng .

– Xquang lồng ngực: hình ảnh thận nhiễm tổ chức kẽ lan toả (đặc trưng của trụy hô hấp cấp tính). Tuy nhiên có thể gặp tổn thương đông đặc phổi cục bộ .

– CT-Scan lồng ngực giúp phát hiện sớm tổn thương phổi khi mà Xquang còn bình thường. Những trường hợp nặng, CT-Scan có thể phát hiện được hình ảnh kén đường kính nhỏ hơn 1cm, tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất .

– Số lượng bạch cầu máu ngoại vi nói chung bình thường, có thể giảm nhẹ; hay gặp giảm lympho. Giảm bạch cầu hạt và tiểu cầu hay gặp ở pha hô hấp. Men gan và creatinin có thể tăng sớm. Tăng LDH huyết thanh cũng hay gặp ở những trường hợp nặng .

3. Chẩn đoán

– Dựa vào:

  •  Dịch tễ .
  •  Đặc điểm lâm sàng, Xquang lồng ngực .

– Chẩn đoán xác định dựa vào cả hai xét nghiệm sau:

  •  PCR với corona virus .
  •  ELISA với corona virus .

Test ELISA tìm kháng thể IgG với corona virus có nhược điểm là phát hiện chậm, ít có giá trị chẩn đoán giai đoạn cấp, thời gian trung bình 19-20 ngày .

Với xét nghiệm PCR: mẫu bệnh phẩm có giá trị lấy từ dịch phế quản, dịch rửa phế quản phế nang. Test realtime PCR có độ nhậy cao hơn .

4. Biến chứng

– Suy hô hấp cấp .

– Suy thận cấp do nguyên nhân trước thận hoặc do hoại tử ống thận cấp .

5. Tiên lượng

Những trường hợp nặng, tử vong thường liên quan tới:

– Tuổi già .

– Có bệnh mạn tính (đái tháo đường, viêm gan B mạn tính)  .

– Triệu chứng không điển hình .

– Tăng nồng độ LDH máu .

– Suy thận cấp .

Tiên lượng tốt hơn ở người trẻ, có thể không có triệu chứng lâm sàng, tỷ lệ tử vong thấp, nguyên nhân có thể người trẻ đã có miễn dịch do nhiễm corona virus các typ khác .

6. Điều trị, dự phòng

6.1. Điều trị

– Bệnh nhân phải được điều trị hồi sức tích cực càng sớm càng tốt .

– Kháng sinh luôn được sử dụng để phòng bội nhiễm .

– Các thuốc kháng virus hay dùng là ribaririn, oseltamiric, nhưng hiệu quả chưa được theo mong muốn .

– Corticoid cũng có chỉ định, tuy nhiên chưa cải thiện rõ ràng tiên lượng .

– Một số phương pháp đang được nghiên cứu áp dụng điều trị:

  •  Interferon alfa .
  •  Dùng nitric oxid, đặc biệt cho bệnh nhân có tổn thương phổi, giúp cải thiện tình trạng thiếu oxy máu và cho phép tiến hành hô hấp hỗ trợ không xâm nhập chế độ áp lực dương cuối thì thở ra .
  •  Glycyrhizin: một chế phẩm từ thảo dược có tác dụng ức chế virus .
  •  Kháng thể đơn clon .

6.2. Dự phòng

Biện pháp cơ bản là:

– Không đi vào vùng có dịch .

– Hạn chế các sinh hoạt tập thể .

– Nhân viên y tế có tiếp xúc bệnh nhân có chế độ dự phòng và cách ly đặc biệt .

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây