U xương hàm do răng - bệnh viện 103
1. Đại cương
U xương hàm do răng là bệnh lý của các khối u phần xương vùng hàm mặt.
1.1. Điểm tài liệu:
- Lần đầu tiên vào năm 1664: Scultet mô tả một u khu trú ở trong xương hàm. Tiếp theo có khá nhiều tác giả báo cáo về vấn đề này cả về lâm sàng và các phương pháp điều trị.
- Tuy nhiên các tác giả vẫn lẫn lộn giữa các khối u, nang xương hàm nguyên nhân do răng và không do răng.
- Cho đến năm 1884 – 1887: Mollazza trình bày các khối u ở xương hàm nguyên nhân do răng. Cách trình bày này được đa số các tác giả thời kỳ đó công nhận.
- Năm 1910: Leriche và Cotte phân loại sâu hơn. Các khối u này bắt nguồn từ mầm răng với loại biểu mô hỗn hợp vừa biểu mô vừa liên kết.
- Hai năm sau (1912), tác giả Coryllas đề nghị phân loại và gọi tất cả các khối u do răng là u men (Adamantiome).
- Năm 1912 – 1925 hai tác giả Delater và Bercher gọi chung các khối u xương hàm do răng là u phôi sản biểu mô liên kết. Cách gọi này nhấn mạnh đến bệnh sinh trong đó yếu tố biểu mô, yếu tố liên kết kích thích tạo nên u giữ vai trò chủ yếu.
- Năm 1932 Bercher và Codwella tổng hợp các công trình nghiên cứu, kế thừa kinh nghiệm của các tác giả trong thời gian dài đã đề nghị phân loại các khối u, nang xương hàm do răng phải dựa vào đặc tính bệnh lý và cơ chế bệnh sinh. Tuy vậy trên thế giới cho đến nay vẫn chưa thống nhất về danh pháp, cơ chế bệnh sinh của các khối u loại này.
1.2. Phân loại các khối u, nang xương hàm do răng theo Bercher và Codwella.
1.2.1. Khối u viêm nhiễm và tăng sản:
– Loại xơ biểu mô.
- U hạt và nang chân răng (cuống răng).
- U hạt và nang quanh răng trên răng sống.
- Nang thân răng.
– Loại liên kết.
- U lợi xơ (Épulis fibreux).
- U lợi huỷ cốt bào.
1.2.2. Loạn sản phôi:
– Loạn phôi đơn phát triển có giới hạn.
- U men đặc tạo răng (Adamantiome).
- U lợi bẩm sinh.
– Loạn phôi phát triển không giới hạn:
- U men thể nang.
- Loạn phôi ung thư hoá.
1.2.3. U răng (Dentom).
- U răng ngoài răng.
- U răng trong răng.
2. Chẩn đoán các khối u xương hàm do răng.
Nhìn chung để chẩn đoán các khối u loại này tương đối dễ, đặc biệt khi bệnh cảnh lâm sàng đã rõ ràng.
Diễn biến của bệnh thường thầm lặng cả quá trình phát triển của u. Không đau tại chỗ, không ảnh hưởng toàn thân, không sốt và ít ảnh hưởng chức năng ăn nhai. Chỉ khi u nang bị bội nhiễm, có đường rò, ngách tiển đình bị phồng, xương bị phá huỷ nhiều mới ảnh hưởng, và lức này có khi bệnh nhân mới tới khám. Khi khám có thể thấy thiếu một răng, có răng chết hoặc mọc sai vị trí, kết hợp với XQ khi đó có chẩn đoán khá chính xác.
Để chẩn đoán u, thường chụp XQ chếch hàm, panorama, Blondeau, film cắn, có khi chỉ chụp film một hoặc một nhóm răng khi nghĩ đến u hạt, nang cuống răng.
Thực tế lâm sàng thường gặp dạng u nang sau: Nang thân răng, u men thể nang và u men đặc tạo răng. Còn các loại u khác hiếm gặp.
3. Một số u xương hàm do răng.
Để trình bày cụ thể chúng ta lần lượt mô tả các khối u sau:
- U men thể nang.
- U men đặc tạo răng.
- Nang thân răng.
Nguồn: Bệnh viện 103
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





