1

Tăng Kali máu - bệnh viện 103

Tăng kali máu là một rối loạn điện giải thường gặp trong khoa hồi sức tích cực. Có thể gây tử vong nếu không được xử trí kịp thời. Tăng khi kali máu > 5mmol/L.Tổng lượng kali trong cơ thể ở một người bình thường vào khoảng 3000-4000mmol với 98% lượng kali này nằm trong tế bào. Nồng độ kali huyết thanh bình thường là 3,5-5mmol/L, ngược lại nồng độ kali bên trong tế bào khoảng 150mmol/L. Như vậy, khu vực dịch bên ngoài tế bào là nơi nồng độ huyết thanh được tiến hành định lượng chỉ chiếm 2% tổng lượng kali của cơ thể.

Vì thế, các rối loạn nồng độ kali trong huyết thanh thường là hậu quả của sự dịch chuyển kali qua tế bào và không phản ánh chính xác tình trạng thiếu hụt hoặc dư thừa của tổng lượng kali trong cơ thể. Bài xuất kali được thực hiện chủ yếu qua thận dưới tác động của Aldosterol trên các ống góp thận. Quá trình bài xuất kali song hành với tái hấp thu natri do đó cũng song hành với việc thiếu hụt thể tích và tăng áp lực động mạch. Mặt khác hoạt tính của Aldosterol trên ống góp cũng gây kích thích bài xuất H+ do vậy nên các tình trạng toan kiềm của bệnh nhân cũng liên quan đến rối loạn nồng độ kali trong cơ thể.

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Dấu hiệu lâm sàng: Khi có biểu hiện lâm sàng thường bệnh nhân đã ở trong tình trạng nguy kịch như: loạn nhịp nhanh, rung thất, ngừng tuần hoàn.

– Dấu hiệu trên điện tim:

  • Nhẹ: sóng T cao nhọn, tăng biên độ ≥ 2/3 sóng R ở chuyển đạo trước tim.
  • Vừa: khoảng PR kéo dài, QRS giãn rộng chậm trễ dẫn truyền nhĩ thất và mấtsóng P.
  • Nặng: Tăng nồng độ kali nghiêm trọng sẽ gây dãn rộng tiến triển của phức bộ QRS rồi hoà trộn giữa sóng T và QRS thành một tạo nên sóng dạng hình sin. Cuối cùng dẫn đến rung thất, vô tâm thu và ngừng tim.

– Xét nghiệm kali máu > 5mmol/l.

Chẩn đoán nguyên nhân

– Tăng kali máu do tăng dịch chuyển từ trong tế bào ra ngoài tế bào:Nhiễm toan do giữ lại acid vô cơ, thiếu hụt insulin, tăng độ thẩm thấu, dùng thuốc chẹn beta2 adrenergic, succinylcholine, ngộ độc digitalis, ngộ độc fluoride, do huỷ hoại tế bào (tiêu cơ vân, tan máu, bỏng, gắng sức quá mức…).

– Thận suy giảm bài xuất kali.

  • Giảm tốc độ lọc của cầu thận (<20ml/phút): Do cơ thể giữ lại các sản phẩm thải bỏ, hoặc từ nguồn ngoại sinh đưa vào (truyền hoặc uống nhiều kali, truyền máu).
  • Thiếu hụt Aldosterol hữu dụng: Do dùng thuốc ức chế men chuyển angiotensin, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II, thuốc lợi tiểu giữ lại kali, nhiễm toan do ống thận typ IV (đái tháo đường, viêm thận kẽ, tắc nghẽn đường dẫn niệu), hoại tử nhú thận, sử dụng cyclosporin A, thuốc chống viêm không steroid, heparin, Ketoconazol, trimethoprim, pentamidin.

Chẩn đoán phân biệt với giả tăng kali máu

– Gặp trong tan máu hoặc thiếu máu khi lấy máu tĩnh mạch, xét nghiệm sai.

– Gặp trong tăng bạch cầu(>50.000/cm3) và tăng tiểu cầu (>1.000.000/cm3).

Điều trị

Khi có biểu hiện triệu chứng hoặc thay đổi trên điện tim đi kèm với xét nghiệm tăng kali máu thì phải tiến hành ngay các biện pháp có khả năng làm hạ nhanh nồng độ kali huyết thanh. Canxi giúp làm ổn định màng tế bào cơ tim nhưng không làm giảm nồng độ kali. Vì vậy canxi được cho đồng thời với các biện pháp điều trị khác có tác dụng gây dịch chuyển kali vào trong tế bào (insulin và albuterol) và thúc đẩy quá trình bài xuất kali (natri polystyren sulfonat, thuốc lợi tiểu, lọc máu). Các biện pháp lọc máu thường được giành cho các trường hợp nặng nhưng không đáp ứng với điều trị nội khoa.

– Calci clorid hoặc canxi gluconat 10%, 1g truyền tĩnh mạch (trung tâm) trong 2 -3 phút. Nếu sóng T không thay đổi có thể lặp lại liều sau 5 phút.

– Tiêm 10 đơn vị insulin nhanh tĩnh mạch với 50g glucose nếu bệnh nhân không có biểu hiện tăng đường huyết có ý nghĩa.Furosemid 40 – 60mg tiêm tĩnh mạch. 

– Natri bicarbonate truyền 2-4 mmol/phút cho đến khi HCO­3 huyết thanh ổn.

– Natri polystyren sulfonat uống 25 – 40mg với 100 ml Sorbitol 20%.

– Lọc máu cấp cứu khi điều trị đáp ứng kém với lợi tiểu.

Cần theo dõi điện tim liên tục trên monitor. Nếu điện tim không thay đổi làm xét nghiệm kali máu 2giờ/ lần cho đến khi trở về bình thường. Nếu có biến đổi trên điện tim làm xét nghiệm lại kali máu ngay. Lưu ý trong trường hợp toan ceton và tăng áp lực thẩm thấu do đái tháo đường điều trị nguyên nhân là chính.Thay đổi chế độ ăn ở những bệnh nhân có nguy cơ tăng kali máu cũng như không dùng những thuốc làm nặng tình trạng tăng kali máu.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây