Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập270
  • Máy chủ tìm kiếm98
  • Khách viếng thăm172
  • Hôm nay54,641
  • Tháng hiện tại1,226,082
  • Tổng lượt truy cập43,079,365

Những yếu tố có thể gây Tử vong khi gây mê - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Mặc dù đã có những tiến bộ rất nhiều trong việc hiểu rõ cơ chế tác dụng của các thuốc gây mê, nhưng chúng ta vẫn chưa nhận thức và tiên lượng chính xác được tất cả những đáp ứng của bệnh nhân khi tiếp xúc với các độc chất này.

1- Kiểm soát đường thở

Kiểm soát đường thở là then chốt trong gây mê hồi sức

  • Chết não khi bệnh nhân bị thiếu oxy sau 4-6 phút. Lâu hơn nữa sẽ dẫn đến ngưng tim.
  • Khi gây mê toàn thân, đường thở được bảo vệ và đảm bảo bằng ống nội khí quản.
  • Ngay sau lỗ khí quản là thực quản. Nếu ống nội khí quản đặt sai vào thực quản, oxygen sẽ không vào được phổi, Sau một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tím tái và ngưng tim.
  • Các dụng cụ mới đã giảm rất nhiều nguy cơ đặt sai ống nội khí quản.
  • Một vấn đề khác về đường thở có thể dẫn đến thiếu oxy là không đánh giá được những cấu trúc giải phẫu bất thường của bệnh nhân khiến việc đặt nội khí quản khó khăn hoặc không thể thực hiện được.
  • Cố gắng đặt nội khí quản nhiều lần sẽ dẫn đến chấn thương đường thở, và nếu không mở khí quản cấp cứu, bệnh nhân sẽ tử vong vì thiếu oxy.

Sensor để kiểm tra SpO2 trong khi gây mê

  • Có nhiều dụng cụ mới được phát minh để hỗ trợ trongn những tình huống khẩn cấp này bao gồm ống nội soi phế quản bằng sợi quang học và mặt nạ đường thở thanh quản (laryngeal mask airway=LMA).
  • LMA là một dụng cụ mới giúp mở đường hô hấp trên (phía trên khí quản) và giúp thông khí tạm thời trong những tình huống khẩn cấp.

Ống, mặt nạ, bóng dùng cung cấp oxy, thuốc gây mê thể khí, và hoán chuyển khí CO2 trong khi gây mê

  • Sặc hít thức ăn từ dạ dày cũng là một nguyên nhân gây tử vong.
  • Tất cả các bệnh nhân có thai, béo phì nặng, nạn nhân chấn thương và bệnh nhân tắc ruột đều có dạ dày đầy thức ăn.
  • Sử dụng các thuốc khởi mê và gây liệt nhanh cùng với động tác đè nhẹ lên cổ sẽ giúp đề phòng thức ăn trào ngược từ dạ dày lên thực quản và giảm sự sặc hít xuống đến mức tối thiểu.

2- Máy giúp thở

Xe chuyên dùng trong gây mê

Ngoài việc bảo đảm đường thở cho oxy và các loại khí khác lưu thông, cần hoán chuyển khí để có thể cung cấp oxy và giúp loại trừ dioxide carbon khỏi cơ thể: Máy giúp thở, một dụng cụ cơ học sẽ giúp giải quyết vấn đề này.

3- Đảo nghịch tác dụng của các thuốc gây liệt cơ

Bệnh nhân sẽ không gặp trở ngại gì trong lúc gây mê nhưng sau đó một thời gian ngắn nếu các thuốc gây liệt sử dụng không được “đảo nghịch"—nghĩa là khử tác dụng của chúng bằng các chất đối kháng, bệnh nhân đang mê sâu hoặc liệt sẽ không tự thở được và bị thiếu oxy.

4- Dùng các thuốc an thần mạnh

Một nguyên nhân nữa gây tử vong thường gặp là việc dùng các thuốc an thần mạnh để bệnh nhân dễ chịu hơn khi thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật “nhỏ”.

Đôi khi những thuốc mạnh này lại được sử dụng bởi các nhân viên chưa được đào tạo đến nơi đến chốn và thiếu sự giám sát của bác sĩ chuyên khoa gây mê. Ngoài tác dụng an thần, các thuốc này còn gây ức chế hô hấp (bệnh nhân ngưng thở) dẫn đến thiếu oxy.

5- Phương Pháp “Giảm đau thức tỉnh”

Một trong những mục tiêu của chương trình đào tạo về gây mê là các phương pháp “giảm đau thức tỉnh" (concious anesthesia), nghĩa là giảm đau nhưng chỉ gây thư giãn tâm thần mà không làm mất ý thức.

Tuy nhiên, ranh giới giữa hai tình trạng này rất mong manh và liều lượng thuốc sử dụng an toàn cho một bệnh nhân này có thể gây mất ý thức ở một bệnh nhân khác.

6- Tràn Khí Màng Phổi

  • Trong một số trường hợp, máy thở có thể hoạt động sai lệch và không cung cấp các khí thở một cách thích hợp.
  • Tăng áp lực trong 2 phổi sẽ làm rách phổi (tràn khí màng phổi). Áp suất này có thể tiếp tục gia tăng ngoài phổi đè ép lên các mạch máu có chức năng đưa máu trở về tim, làm giảm cung lượng tim (tràn khí màng phổi áp lực dương). Bệnh nhân có thể diễn tiến đến tử vong trừ phi phát hiện được tràn khí màng phổi và đặt ống dẫn lưu giảm áp qua thành ngực.
  • Tràn khí màng phổi không phải lúc nào cũng được chẩn đoán dễ dàng. Bệnh nhân bị chấn thương là những người có nguy cơ tràn khí màng phổi cao nhất.
  • Các nguyên nhân khác có thể do chọc thủng màng phổi khi đâm kim vào các mạch máu lớn để tạo đường truyền tĩnh mạch- thường là tĩnh mạch dưới đòn hoặc tĩnh mạch cảnh trong.

7- Hệ Tuần Hoàn

  • Tim bơm máu đi khắp cơ thể. Khi tim ngừng đập, các cơ quan trong cơ thể không nhận được máu và oxygen.
  • Bệnh nhân thường xuất huyết trong khi phẫu thuật và bác sĩ gây mê cần phải bù đầy đủ máu và dịch bị mất. Bác sĩ gây mê cần phải tiên lượng được phẫu thuật nào có thể gây mất nhiều máu và dịch để dự trù máu và đặt trước đường truyền tĩnh mạch.
  • Hệ tuần hoàn có thể ngừng hoạt động dưới tác dụng của nhiều loại thuốc gây mê. Các chất này đều gây độc ở những nồng độ hơi cao hơn một chút so với nồng độ gây mê.
  • Dùng quá liều thuốc gây mê thể khí và thuốc gây mê tĩnh mạch sẽ làm tim ngừng đập. Mỗi bệnh nhân đều có những đáp ứng hơi khác nhau đối với thuốc gây mê
  • Một liều “trung bình” thuốc gây mê có thể gây ra sự cố trong  những tình huống đặc biệt, như đối với những trường hợp bệnh nhân bệnh nặng hoặc có giảm thể tích máu. Bác sĩ gây mê cần nắm vững và nhận biết được ngay những vấn đề này khi chúng xảy ra.

8- Phản Ứng Dị Ứng

  • Phản ứng dị ứng thuốc thường đe doạ tính mạng. May thay, các thuốc gây mê thể khí thường ít gây phản ứng dị ứng. Các thuốc gây dị ứng làm tụt huyết áp đáng kể, thở khò khè dẫn đến mất khả năng tự thở.
  • Các thuốc dùng phối hợp với thuốc mê, như các thuốc dãn cơ (tác nhân gây liệt), các thuốc gây mê tĩnh mạch, và các kháng sinh thường gây những phản ứng quá mẫn.
  • Latex cũng có thể gây ra các phản ứng dị ứng đe doạ đến tính mạng. Găng tay Latex có thể dẫn đến phản ứng dị ứng khi phẫu thuật viên đưa tay vào cơ thể người bệnh.
  • Các bước điều trị sốc phản vệ đã được biết rõ, nhưng vấn đề là phải làm sao nhanh chóng điều trị với liều lượng đầy đủ.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây