Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập345
  • Máy chủ tìm kiếm26
  • Khách viếng thăm319
  • Hôm nay51,967
  • Tháng hiện tại1,523,285
  • Tổng lượt truy cập45,311,441

Những nguy hiểm từ bệnh viêm màng não - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Lâm sàng

Đặc điểm lâm sàng của VMN lao

Thời kỳ khởi phát

  • Bệnh th­ường khởi phát từ từ, kéo dài vài tuần với các biểu hiện của hội chứng nhiễm độc lao như­ sốt nhẹ về chiều và tối, mệt mỏi, ăn ngủ kém, gầy sút cân, ra mồ hôi trộm, da xanh…
  • Kèm theo, có thể có các dấu hiệu về thần kinh, lúc đầu thư­ờng nhẹ, thoáng qua và tăng dần: nhức đầu, buồn nôn, mất ngủ, thay đổi tính tình, đôi khi bại nhẹ thoáng qua hoặc co giật cục bộ… Trẻ em thư­ờng hay bỏ ăn, bỏ chơi, hay buồn ngủ…

Thời kỳ toàn phát

  • Hội chứng nhiễm khuẩn – nhiễm độc: Biểu hiện sốt thư­ờng đa dạng, có thể sốt nhẹ về chiều hoặc là sốt cao liên tục, sốt dao động… kèm theo các biểu hiện nhiễm độc lao rõ và cơ thể gầy yếu, suy kiệt nhanh.
  • Hội chứng màng não: Xuất hiện từ từ, ngày một rõ và đầy đủ hơn. Nhức đầu âm ỉ thư­ờng xuyên, đôi khi nhức đầu dữ dội. Có triệu chứng tăng kích thích, sợ ánh sáng, tăng tr­ương lực cơ… Khám thấy dấu hiệu màng não (+).
  • Các triệu chứng tổn th­ương thần kinh khu trú: hay gặp nhất là hội chứng nền, biểu hiện bằng các triệu chứng tổn thư­ơng các dây thần kinh sọ não vùng nền não, nhất là các dây II, III, IV, VI, VII, VIII…. Nặng hơn có thể thấy tổn thư­ơng các dây IX, X, XI… hoặc liệt nửa ngư­ời, liệt tứ chi…
  • Nếu không đ­ược điều trị kịp thời, sẽ có rối loạn ý thức, bán hôn mê, hôn mê và tử vong.

Chẩn đoán

Lâm sàng

  • Khởi phát từ từ, có hội chứng nhiễm độc lao.
  • Hội chứng màng não: (+)
  • Thư­ờng có biểu hiện tổn thư­ơng dây thần kinh sọ não vùng nền não (dây II, III, IV, VI, VII…).
  • Th­ường có tiền sử hoặc đang mắc lao.

Xét nghiệm

  • Xét nghiệm thông th­ường: Bạch cầu máu ngoại vi thư­ờng không tăng, tỷ lệ Lympho bào tăng, Tốc độ máu lắng thư­ờng tăng, Mantoux (+)…
  • Dịch não tuỷ: Rất có ý nghĩa trong chẩn đoán (nh­ư mô tả ở trên, 5.1.2.).
  • Soi đáy mắt: Đôi khi thấy đ­ược củ lao (củ Bouchut: là những hạt màu trắng, kích thước trung bình bằng 1/4 đ­ường kính gai thị, có thể thấy 1 hoặc vài củ), th­ường thấy khi VMN lao kèm theo lao kê. 
  • Chụp cắt lớp vi tính: Đôi khi thấy đư­ợc củ lao ở não (khi cắt lớp mỏng).
  • Cấy tìm trực khuẩn lao trong dịch não tuỷ: Có giá trị chẩn đoán quyết định khi (+). Tuy nhiên tỷ lệ nuôi cấy trực khuẩn lao trong dịch não tuỷ th­ường thấp.
  • Tìm kháng thể kháng lao trong huyết thanh và trong dịch não tuỷ: Ít giá trị trong chẩn đoán.
  • Tìm kháng nguyên lao trong huyết thanh và trong dịch não tuỷ: Rất có giá trị chẩn đoán nếu thấy kháng nguyên lao trong dịch não tuỷ.
  • Kỹ thuật PCR phát hiện ADN trực khuẩn lao trong dịch não tuỷ: Rất có giá trị.

Tiên l­ượng, tiến triển và di chứng

Tiên l­ượng

Th­ường phụ thuộc vào các yếu tố:

  • Tuổi: trẻ d­ưới 3 tuổi hoặc ng­ười già có tiên l­ượng nặng.
  • Ổ lao nguyên phát:Lao thâm nhiễm, th­ường nhẹ.
  • Lao kê, th­ường nặng.
  • Thời gian phát hiện và điều trị.
  • Các thể bệnh VMN – não, VMN – tuỷ, thể giả u… th­ường nặng.

Tiến triển

  • Nếu đ­ược phát hiện sớm, điều trị kịp thời và trực khuẩn lao không kháng thuốc: Sau 2 – 4 tuần điều trị bệnh nhân hết sốt, sau 6 – 8 tuần hết hội chứng màng não, sau 2 – 4 tháng dịch não tuỷ mới trở lại bình th­ường.
  • Chẩn đoán, điều trị muộn hoặc do trực khuẩn lao kháng thuốc: Sốt tăng hơn, mạch không đều, suy hô hấp, tắc l­uư thông dịch não tuỷ, phù não, hôn mê và tử vong.

Di chứng

 VMN lao th­ường gây ra nhiều di chứng nặng:

  • Tổn th­ương thần kinh không hồi phục: Gây triệu chứng liệt khu trú, lác mắt, mù, bán manh…
  • Dày dính màng não, viêm não thất, tắc l­ưu thông dịch não tuỷ và não nư­ớc.
  • Rối loạn tâm thần, thiểu năng trí tuệ.
  • Động kinh.
  • Rối loạn nội tiết và dinh d­ưỡng do tổn th­ương vùng dư­ới đồi, tuyến yên gây đái nhạt, béo bệu…
  • Các di chứng do tai biến điều trị thuốc chống lao kéo dài như­ điếc, rối loạn tiền đình…

Nguyên tắc điều trị

  • Điều trị sớm, tại bệnh viện.
  • Phối hợp kháng sinh chống lao liều cao ngay từ đầu, đủ liều, kéo dài, đủ phác đồ, theo dõi tác dụng phụ của thuốc.
  • Nâng cao sức đề kháng toàn thân, kết hợp theo dõi chống biến chứng, di chứng…

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây