Nguy cơ mắc bệnh khi bị chuột cắn - Bệnh viện 108
Trong thời gian qua, rất nhiều trường hợp người dân khi ngủ không mắc màn (mùng) để chuột bò vào và cắn vào chân, ngón tay chảy máu. Một số người chủ quan xem thường không đi bệnh viện kiểm tra nên đã nhiễm bệnh từ chuột.
Sốt do chuột cắn:
Bệnh Sodoku
-
Bệnh Sodoku được ghép 2 từ tiếng Nhật, so = chuột, doku = nhiễm độc.
-
Người ta phân lập ra xoắn khuẩn từ máu của bệnh nhân và đặt tên là Spirillum minus vào năm 1924.
- Xoắn khuẩn Gram âm ngắn với 2 đến 2 vòng xoắn và không mọc được trong môi trường nuôi cấy nhân tạo.
Dịch tễ:
- Spirillum minus thường gây bệnh sốt do chuột cắn ở châu Á, một vài ca bệnh rải rác được báo cáo ở châu Úc, châu Phi, châu Mỹ và châu Âu.
- S. minus được tìm thấy ở cơ lưỡi của các loài chuột, chó, mèo hoàn toàn khỏe mạnh.
- Bệnh được lây một các tình cờ, trực tiếp qua các vết cắn hoặc vết cào, hoặc gián tiếp thông qua tiếp xúc, hoặc ăn các thức ăn có lẫn nước tiểu của chuột chứa mầm bệnh. 25% số chuột được xét nghiệm có mang S. minus.
Biểu hiện:
- Thời kỳ ủ bệnh của bệnh Sodoku thường từ 5 ngày đến 4 tuần. Khởi phát đột ngột
- Sốt cao (390C - 400C), ớn lạnh, sốt thành từng cơn, sốt không có tính chu kỳ, xen kẽ là thời kỳ không sốt là những biểu hiện thường thấy ở các bệnh nhân bị chuột cắn gây ra bởi Spirillum minus.
- Sự tái phát cơn sốt có thể xuất hiện vài lần trong vòng từ 1 đến 3 tháng.
- Các dấu hiệu ngoài da là các ban sẩn xuất huyết, có xu hướng dính liền với nhau, thường tập trung ở da đầu, mặt và nửa thân trên.
- Ở chỗ bị cắn, các tổn thương ngoài da có thể tự khỏi, nhưng phần lớn các trường hợp xuất hiện ban xuất huyết hoại tử tại chỗ và có phản ứng của hạch khu vực.
- Trong những trường hợp nặng, bệnh nhân có thể có các dấu hiệu của hệ thống thần kinh: đau đầu, ảo giác, mê sảng dẫn đến hôn mê.
- Biến chứng có thể xảy ra: viêm nội tâm mạc, viêm màng não, nhồi máu cơ tim, viêm gan, viêm màng phổi, viêm mào tinh hoàn, thiếu máu nặng.
Chẩn đoán:
- Tìm thấy tác nhân gây bệnh ở trong máu, hạch lympho, vết thương bị cắn, ban trên da.
- Spirillum minus có thể được tìm thấy trên kính hiển vi nền đen, nhuộm Giemsa, nhuộm Wright hoặc nhuộm bạc.
- Vi khuẩn hình xoắn khuẩn ngắn, gram âm (rộng 0.2-0.5µm và dài 3-5µm), có lông roi ở hai đầu. Hiện nay vẫn chưa thể nuôi cây vi khuẩn trên môi trường nhân tạo.
- Trong trường hợp soi kính hiển vi không phát hiện được, máu hoặc dịch tại chỗ tổn thương có thể được cấy vào chuột, để phân lập S.minus.
Bệnh sốt Haverhill:
-
Bệnh sốt do chuột cắn căn nguyên là Streptobacillus moniliformis được biết đến dưới tên gọi là sốt Haverhill
-
Streptobacillus moniliformis là trực khuẩn gram âm, ưa khí, không di động, không có vỏ bao, đa hình thể.
- Chúng thường có hình cầu, hình oval, hình thoi, trong một số trường hợp chúng cuộn thành hình khối. Chúng được tìm thấy trong mũi hầu của chuột.
Dịch tễ:
- Bệnh xuất hiện rải rác ở một số các gia đình nghèo.
- Sốt Haverhill có thể thấy ở các vùng khác nhau trên thế giới nhưng hay gặp nhất là ở Mỹ và đôi khi gặp ở châu Âu.
- Sự lây truyền sang người trực tiếp thông qua vết cắn hoặc vết cào của chuột và bởi ăn các thức ăn chưa được nấu chín hoặc nguồn nước có lẫn nước tiểu của chuột bị bệnh, hoặc gián tiếp thông qua việc tiếp xúc giữa bàn tay không được bảo vệ với các con chuột bị ốm, chết trong phòng thí nghiệm.
- Streptobacillus moniliformis có thể xâm nhập vào người qua da lành.
Biểu hiện:
- Thời gian ủ bệnh từ 3 - 10 ngày. Bệnh xuất hiện đột ngột
- Hội chứng nhiễm trùng, biểu hiện sốt cao trên 400C, gai rét, đau đầu. Hội chứng nhiễm trùng xuất hiện dai dẳng, gián đoạn.
- Triệu chứng của đường tiêu hóa như: buồn nôn, nôn xuất hiện khi Streptobacillus moniliformis lây qua đường tiêu hóa.
- Đau cơ, đau khớp có thể xuất hiện với đặc điểm đau di chuyển từ khớp này sang khớp khác.
- Triệu chứng trên da với biểu hiện các ban xuất huyết ở gan bàn chân, gan bàn tay.
- Biểu hiện sốt sẽ giảm dần sau 3-5 ngày thậm chí không cần điều trị kháng sinh, các biểu hiện của khớp cũng biến mất trong khoảng 10-14 ngày.
- Trường hợp nặng thường có các biến chứng: viêm nội tâm mạc, nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm phổi, viêm màng não, hội chứng thiếu máu.
Chẩn đoán:
- Chẩn đoán thông qua cấy máu, dịch khớp, dịch rỉ từ vết thương.
- Phụ thuộc vào môi trường nuôi cấy, vi khuẩn có thể mọc đơn độc hoặc thành từng chuỗi.
- S.moniliformis phát triển khó và phải được nuôi cấy trong môi trường có 20% huyết thanh, máu hoặc dịch cổ trướng.
- Vi khuẩn không phát triển tốt trong các môi trường thông thường.
- Phương pháp gây nhiễm cho động vật gặm nhấm cũng được sử dụng trong chẩn đoán, chẩn đoán bằng huyết thanh có độ tin cậy không cao, ngoài ra có thể dùng kỹ thuật gen PCR (polymerase chain reaction).
Điều trị:
- Chăm sóc vết cắn: Ngay sau khi bị chuột cắn thì nên rửa sạch bằng nước muối, thuốc sát trùng, nước xà phòng.
- Khi đến bệnh viện bệnh nhân cần được tiếp tục rửa sạch vết thương và tiêm phòng uốn ván.
- Dùng kháng sinh Penicillin tĩnh mạch (2 triệu đơn vị mỗi 4 giờ), trong 5-7 ngày.
- Nếu lâm sàng cải thiện có thể ampicillin 500mg x 4 lần/ngày đường uống cho đủ thời gian 7 ngày.
- Trong những trường hợp dị ứng với penicillin, có thể thay thế bằng tetracycline (viên uống, 500mg/lần x 4 lần/ngày) hoặc doxycycline (100mg, uống hoặc tiêm tĩnh mạch x 2 lần/ngày), trong 5-7 ngày. Hoặc Streptomycin 1 – 2 g/ngày tiêm bắp x 7 ngày
Dự phòng:
-
Để tránh bị chuột cắn phải người dân cần ngủ mắc màn, chặn màn chặt để không cho chuột chui vào cắn.
-
Nên vệ sinh nhà cửa sạch sẽ, tránh để đồ đạc ẩm thấp, bừa bãi làm nơi chuột trú ngụ, sinh sản.
- Không dùng tay không để bắt chuột
Nguồn: Bệnh viện 108





