1

Nang ống giáp lưới - bệnh viện 103

1. Đại cương

Các khối phồng ở cổ bẩm sinh

Khối phồng ở cổ bẩm sinh là một khối phát triển có từ lúc sinh ra, và phát triển chậm có thể thấy ở bệnh nhân và gia đình họ. Mặc dù bất thường có từ lúc sinh nhưng khối phồng có thể xuất hiện muộn.

Các khối phồng ở cổ có nhiều loại, các khối phồng bẩm sinh thường thấy ở tai, mũi và họng là:

– Bất thường khe hở khe mang (Branchial Cleft Anomalies).

– Di tích ống giáp lưỡi (giống nang). Thyroglossal duct remnants (like cysts).

– U bạch mạch (Lymphangiomas) giống nang dịch (cystic hygromas).

– U máu (Hemangiomas) bất thường mạch máu (blood vessel abnormalities)

– Nang biểu bì (Dermoid cysts)

2. Định nghĩa

Nang ống giáp lưỡi (thyroglossal duct cyst) là một khối phồng hoặc một cái bướu ở cổ bẩm sinh thường gặp nhất chiếm vào khoảng 70% những bất thường ở cổ bẩm sinh, và là khối ở cổ lành tính đứng thứ 2 sau u bạch mạch. Nó phát triển từ các tế bào và tổ chức còn sót lại sau khi hình thành tuyến giáp trong thời kì phát triển bào thai. Nó thường xuất hiện ở trẻ em ở lứa tuổi thiếu nhi hoặc thời kì thanh thiếu niên (có khoảng 50% số bệnh nhân ở tuổi dưới 20) và thường xuất hiện sau viêm đường hô hấp trên, nó to lên và trở nên đau.

86.000 bệnh nhân được kiểm tra ở Mayo Clinic (Mỹ) chỉ có 31 nang giáp lưỡi. 8 người trong số đó là nam và 13 người là nữ. Nang xuất hiện ở tất cả lứa tuổi từ lúc mới sinh đến 53. Chủ yếu thấy ở tuổi 20 đến 25.

Tỷ lệ ung thư biểu mô nang ống giáp lưỡi là hiếm xuất hiện: <1% số trường hợp. Trong số bệnh nhân đó, cho thấy hình ảnh ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (papillary carcinoma of thyroid tissue)

3. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Tuyến giáp nguyên thủy hình thành và dịch chuyển từ lỗ tịt (foremen caecum) tại vị trí tiếp giáp 2/3 trước với 1/3 sau của lưỡi tới phần dưới cổ ở tuần thứ 7 của thời kì bào thai, sau đó dịch chuyển ra trước tới màng nhầy giáp móng và cơ băng (strap muscle).

Trong thời gian di cư nó kết nối với lưỡi bởi một cấu trúc ống hẹp – ống giáp lưỡi. Cấu trúc này luôn biến mất lại ở tuần thứ 8 tới tuần thứ 10 của thời kì bào thai.

Nang ống giáp lưỡi là một dị tật bẩm sinh (xuất hiện từ lúc sinh) là kết quả của sự dãn dần của một tổ chức còn sót lại tại nơi tuyến giáp nguyên thủy hình thành, để lại một khoang hoặc túi gọi là nang. Những nang này chứa dịch và chất nhầy và có thể lớn hơn nếu bị nhiễm trùng. Các nang rất lớn có thể gây lên khó nuốt hoặc khó thở.

Ống giáp lưỡi liên quan mật thiết với xương móng, có khoảng 15% số trường hợp nang ở ngay xương móng và 65% ở phía dưới xương móng.

4. Triệu chứng

Các triệu chứng thông thường nhất của nang ống giáp lưỡi:

– Có thể sờ thấy được (hoặc cảm thấy) một khối phồng tròn, mềm, nhỏ ở trung tâm phía trước của cổ ở phía dưới hoặc ngang mức xương móng (hyoid bone) (75% số trường hợp), nhưng cũng có thể lệch sang bên cạnh cổ một chút (25%). Khối phồng cổ di chuyển theo nhịp nuốt (mass moves with swallowing). Sờ nắn khối đó luôn cảm thấy một ống dính từ nang tới xương móng.

– Khối phồng có thể căng, đỏ và xưng tấy nếu nhiễm trùng do từ lúc tồn tại ống hoặc nang đã làm thông và tăng bài xuất vào miệng vì thế nang dễ bị nhiễm trùng.

– Một vài bệnh nhân thấy đau ở cổ hoặc họng, khó nuốt (dysphagia).

– Một lỗ nhỏ ở da gần với khối phồng có chảy dịch nhầy từ nang ra. Lỗ dò có thể tồn tại từ 6 tháng đến 29 năm (y văn).

Nang giáp luỡi thường liên quan với sự gia tăng của mô tuyến giáp lạc chỗ. Đôi khi tuyến giáp lưỡi có thể trông như quả dâu tây bẹt giống một cái bướu nằm ở nền lưỡi.

Quá một nửa nang ống giáp lưỡi không được chẩn đoán đến tận lúc trưởng thành. Các đường này có thể nằm im trong nhiều năm hoặc vài chục năm đến khi có kích thích làm dãn nang. Đôi khi nhiễm trùng làm xuất hiện một khối phồng thoáng qua hoặc làm rộng nang, có khi tái phát có chu kỳ.

Tuy nhiên, mỗi một bệnh nhân có thể có những triệu chứng khác nhau. Các triệu chứng của nang ống giáp lưỡi cũng có thể giống với những khối phồng khác ở cổ như u máu, u bạch mạch, nang biểu bì…

5. Chẩn đoán

Nhìn chung, để chẩn đoán phải dựa vào khám lâm sàng. Một khối phồng điển hình di chuyển lên trên khi lưỡi thè ra trước và khi nuốt do ống giáp lưỡi thường dính với gốc lưỡi. Tầm quan trọng nhất để xác định nếu nang ống giáp lưỡi có chứa tổ chức tuyến giáp. Bên cạnh khám lâm sàng và tìm hiểu tiền sử bệnh, quá trình chẩn đoán nang ống giáp lưỡi bao gồm các bước sau:

– Thử máu (đánh giá chức năng tuyến giáp).

– Khám siêu âm để đánh giá nang và cơ xung quanh khối phồng. Hình ảnh siêu âm sẽ cho thấy một vùng loãng âm có thành mỏng. Nhưng cũng chỉ phát hiện được ở khoảng 50% bệnh nhân.

– CT scans tuyến giáp và xương móng, trước khi cắt bỏ nang ống giáp lưỡi.

Điều quan trọng nhất là phải chứng minh tổ chức tuyến giáp ở vị trí bình thường. CT tuyến giáp và nghiên cứu chức năng của nó cần phải làm trước khi phẫu thuật.

6. Điều trị

Điều trị nang ống giáp lưỡi bào gồm:

– Chống nhiễm trùng. Nếu nang nhiễm trùng, abces hóa cần trích rạch sớm, dẫn lưu để lại thành một đường dò, sau 3 đến 6 tháng sẽ tiến hành phẫu thuật cắt bỏ.

– Phẫu thuật lấy bỏ nang và ống giáp lưỡi được gọi là phẫu thuật Sistrunk. Bởi vì xương móng nguyên thủy hình thành quanh ống giáp lưỡi. Điều trị quan trọng đối với nang ống giáp lưỡi là phẫu thuật cắt bỏ nang kết hợp lấy bỏ thân xương móng (phẫu thuật Sistrunk) dọc theo ống tới tận lỗ tịt tại gốc luỡi. Tỷ lệ tái phát sau khi phẫu thuật như vậy từ 2- 6%, thấp hơn nhiều so với phẫu thuật cắt bỏ không hoàn toàn (trên 38%).

Nang ống giáp giáp lưỡi có thể tái phát nếu phần nhỏ của tổ chức còn lại sau phẫu thuật. Hầu hết phẫu thuật nang giáp lưỡi không thành công là do không lấy bỏ hết lớp biểu bì dọc đường ống chạy dài từ nang tới lỗ tịt (foramen caecum). Nhiễm trùng nang trước khi phẫu thuật làm cho lấy bỏ khó khăn hơn và làm tăng tỷ lệ tái phát.

Kỹ thuật:

– Rạch da dài khoảng 5cm ngang qua cổ phía trên xương móng da, bóc tách dưới da, cân cơ được kéo sang bên. Nang sẽ được thấy nằm dưới đường đan nhau (raphé) kết nối cơ ức – móng (sterno‐hyoid muscles). Nó được cắt tự do khỏi tổ chức xung quanh tới tận xương móng. Tại chỗ này ống luôn luôn đi qua xương móng, mặc dù đôi khi thấy đi phía trên hoặc dưới xương móng.

– Tách cơ dính vào thân xương móng và lấy bỏ phần xương dài khoảng 0,5cm, không nên cố gắng bóc tách sát quá đường ống, dễ bỏ sót tổ chức, cần lấy luôn cả tổ chức xung quanh từ chỗ này tới tận lỗ tịt, lấy bỏ ống cùng với tổ chức xung quanh độ khoảng 0,25cm ở mỗi bên của ống. Hướng của đường ống vẫn không đổi, được lấy ra theo một góc 45 độ tính từ bề mặt trên của trung tâm xương móng ở đường giữa của cổ, ra sau và lên trên, hướng tới nền luỡi. Cắt lấy bỏ ống, một phần xương móng và đường đan dính cơ hàm móng (mylohyoid), một phần của cơ cằm móng (geniohyoglossus muscle) và lỗ tịt.

Có thể tiêm vào nang – ống dung dịch xanh methylen để phát hiện các nhánh bên và những gì khó thấy giữa xương móng và lỗ tịt rồi lấy bỏ chúng đi.

– Lỗ thông với miệng được đóng kín lại, tổ chức xung quanh chỗ cắt xương móng được khâu lại với nhau bằng chỉ safil 4/0. Để đảm bảo cho đường khâu này, trong 7 đến 10 ngày đầu nên nuôi dưỡng bằng cách đặt sonde qua mũi để cho ăn

– Đặt một dẫn lưu bằng một ống cao su nhỏ ngay tại điểm này, khâu da bằng các mối chỉ Nilon rời 5/0 hoặc khâu vắt.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây