Một số bệnh về xương khớp trên Xquang- bệnh viện 103
Một số bệnh về xương
Gãy xương
– Yêu cầu chẩn đoán: đối với các ổ gãy xương lớn có di lệch nhiều, việc chẩn đoán tương đối dễ. Tuy nhiên, với các trường hợp gãy rạn, gãy không di lệch thì việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn. Chú ý tránh chẩn đoán nhầm đường gãy xương với các đường sáng ở xương như khe sụn tiếp hợp đầu xương, vết hằn của mạch máu hay đường khớp nối ở xương vòm sọ. Chẩn đoán một ổ gãy xương trên phim X quang phải xác định được:
- Xác định trí của ổ gãy có thể dựa vào các mốc giải phẫu của hệ xương khớp, đối với các xương dài, có thể định khu theo vị trí các vùng (1/3 trên, giữa hay dưới ).
- Xác định được hình thái ổ gãy hay kiểu đường gãy: Có nhiều dạng đường gãy như gãy ngang, gãy chéo vát, gãy dập nát, gãy phạm khớp, gãy bong sụn tiếp hợp, gãy cành xanh (ở trẻ em ), gãy lún (đối với cột sống hoặc xương vòm sọ)… Ngoài ra dựa vào hình thái ổ gãy để xác định các đường gãy xương bệnh lý như đường gãy xảy ra trên một kén xương, trên một vùng tiêu xương do u ác tính, một u tế bào khổng lồ hoặc một cốt tuỷ viêm…
Đánh giá sự di lệch của ổ gãy: có 5 kiểu di lệch là di lệch sang bên, di lệch chồng, di lệch cắm gắn, di lệch gập góc và di lệch xoay. Xác định sự di lệch ổ gãy của các xương dài phải căn cứ vào đầu ngoại vi của ổ gãy.
Với các ổ gãy mới, khe ổ gãy thường sáng, bờ ổ gãy sắc nét. Nhưng với các ổ gãy cũ đang trong quá trình liền xương thì khe ổ gãy không còn rõ và xung quanh ổ gãy xuất hiện hình thành can xương ở các mức độ khác nhau, tùy theo thời điểm sau khi gãy xương. Trong trường hợp ổ gãy không liền, tạo khớp giả thì bờ hai đầu ổ gãy có hình ảnh dày đậm xương do xơ hóa và trở nên tròn nhẵn kiểu hình “chày cối ”.
Một số vị trí gãy xương thường gặp:
- Chi trên: gãy cổ phẫu thuật xương cánh tay, gãy khối trên lồi cầu xương cánh tay, gãy xương trụ kết hợp sai khớp quay trụ trên ( gãy Monteggia ), gãy đầu dưới xương quay (kiểu Pouteau- Colles), gãy các xương bàn ngón tay
- Chi dưới: gãy cổ xương đùi, gãy liên mấu chuyển xương đùi, gãy thân xương đùi, gãy xương mâm chày, vỡ xương bánh chè, gãy hai xương cẳng chân, gãy 1/3 dưới xương mác và kết hợp gãy mắt cá trong ( gãy Duyputren).
Bệnh nhiễm khuẩn xương
Viêm xương tủy xương lan truyền theo đường máu ở trẻ em
Lâm sàng: thường gặp ở trẻ em khoảng dưới 15 tuổi, do tụ cầu gây nên. Vi khuẩn từ một ổ nhiễm khuẩn theo đường máu đến gây tổn thương tại xương. Vị trí ban đầu ở hành xương, nơi có giàu mạch máu. Biểu hiện bằng dấu hiệu đau đột ngột một vùng xương, sốt cao, bạch cầu tăng cao.
Hình ảnh X quang thể hiện qua các giai đoạn:
- Giai đoạn đầu có hình ảnh thưa xương ở vùng hành xương. Nếu không điều trị kịp thời, vi khuẩn sẽ lan toàn bộ thân xương thể hiện bằng những ổ tiêu xương nhỏ xen kẽ với các vùng xương dày đậm do phản ứng tạo xương.
- Các tổn thương này nhanh chóng lan ra toàn bộ thân xương. Phản ứng cốt mạc thể hiện hình ảnh các giải mờ chạy dọc theo hai bên thân xương tương ứng với phần xương bị viêm.
- Giai đoạn tiến triển cho thấy ổ tiêu xương có thể tạo thành ổ hoại tử lớn hơn, bên trong có chứa mảnh xương chết (đảo xương), mảnh xương chết bị dò ra phần mềm. Sự tăng sinh xương từ những bè xương thể hiện bằng hình ảnh dày đậm xương làm cho bờ xương phì đại, méo mó, thu hẹp giới hạn của ống tủy.
- Giai đoạn mạn tính cho thấy toàn bộ xương mờ đặc che lấp ống tuỷ do phản ứng tạo xương chiếm ưu thế. Có thể thấy các ổ khuyết xương do phẫu thuật nạo vét ổ hoại tử xương tạo nên. Khác với ổ tiêu xương, ổ khuyết xương có bờ viền nhẵn.
Viêm xương tuỷ xương do nguyên nhân gãy xương hở:
Quá trình viêm xương tuỷ chỉ diễn ra tại chỗ ở hai đầu xương của ổ gãy, ít khi lan toả ra toàn bộ xương như trong viêm xương tuỷ xương lan theo đường máu. Ổ gãy chậm liền xương. Bờ xương ổ gãy nham nhở có thể thấy phản ứng cốt mạc ở xương hai đầu ổ gãy.
Lao xương khớp.
- Lâm sàng: Thường xảy ra ở cột sống và các khớp lớn như khớp gối, khớp háng, khớp vai, cột sống. Vi khuẩn lao thường xuất phát từ lao phổi đến gây tổ thương ở đầu xương và lan vào khớp.
- Hình ảnh X quang xuất hiện muộn hơn so với các dấu hiệu của lâm sàng từ 4- 6 tuần. Biểu hiện ban đầu là hình ảnh hẹp và mờ khe khớp, thưa xương ở các đầu xương cạnh khớp. Diễn biến tiếp theo là các ổ phá hủy xương đối diện ở hai đầu xương ngay bờ diện khớp (kiểu soi gương) khe khớp hẹp dần và không còn rõ giới hạn. Giai đoạn di chứng dẫn đến dính khớp (dính hai đầu xương của khớp hoặc dính chỏm và ổ khớp ).
Bệnh hoại tử xương vô khuẩn
Hoại tử vô khuẩn tiêu chỏm xương đùi ở người lớn (bệnh Caisson)
- Lâm sàng: Thường gặp ở nam giới, lứa tuổi trung niên, có nghiện rượu, thuốc lá, hoặc dùng corticoid kéo dài, sau chấn thương, cũng có khi không có nguyên nhân rõ ràng. Có triệu chứng hạn chế vận động khớp háng.
- Hình ảnh X quang: giai đoạn đầu không thấy biến đổi trên phim X quang quy ước. Sau khoảng một tháng, thấy hình tiêu xương thành những ổ nhỏ trong lòng chỏm xương đùi, hình tổ ong đường bờ chỏm xương mất sự liên tục do bị vỡ. Một phần của chỏm xương bị lún xuống. Ổ cối không bị biến đổi. Nêú tiến triển lâu ngày sẽ dẫn đến tiêu chỏm xương đùi ở cả bên đối diện.
Bệnh hoại tử vô khuẩn sụn tiếp hợp chỏm xương đùi (bệnh Perthes-Legg-Calve)
- Lâm sàng: thường gặp ở trẻ em khoảng từ 5 -10 tuổi. Biểu hiện đau và hạn chế vận động một bên khớp háng.
- Hình ảnh X quang: Giai đoạn đầu sụn tiếp hợp chỏm xương đùi có hình ảnh mờ đậm và xẹp nhỏ hơn bên lành. Thành phần chính của sụn tiếp hợp chỉ còn lại là chất vôi. Khe khớp háng rộng ra. Giai đoạn muộn, sụn tiếp hợp vỡ ra thành nhiều mảnh. Giai đoạn hồi phục và di chứng cho thấy hình ảnh cổ xương đùi bi biến dạng kiểu xoay trong (coxa vara)
Bệnh u xương
U xương lành tính
U xương sụn ( osteochondroma ) thường được gọi là chồi xương: thường xuất hiện ở vùng hành xương nhất là xương chi dưới. U xương có dạng như gai hay chồi mọc ra ở vùng hành xương. Bờ u tách biệt với vùng xương lành bên cạnh, có thể có cuống.Tiến triển của u rất chậm, có khi vài năm .
Kén xương (kén Mikulicz): thường đơn độc, xuất hiện ở thân các xương dài, không có triệu chứng lâm sàng. Được phát hiện thường sau gãy xương bệnh lý do một chấn thương có thể rất nhẹ. Kén xương thể hiện trên phim là một vùng sáng, hình bầu dục nằm dọc theo trục dọc của xương, không có cấu trúc xương bên trong, ranh giới rõ. Trục của kén xương thường nằm ở chính giữa trục của thân xương. Kén xương kích thước lớn làm vỏ xương bị đẩy vồng ra, mỏng đi và dễ gây gãy xương.
U tế bào khổng lồ: thường thấy ở đầu các xương dài, khoảng 15 % u tế bào khổng lồ có biểu hiện ác tính. U thể hiện trên phim X quang là một vùng sáng ở đầu và hành xương, ranh giới rõ, bên trong có nhiều vách. Khối u có khi nằm phía ngoài so với trục của thân xương. Trong trường hợp khối u thoái hóa ác tính, thường biểu hiện phá vỡ vỏ xương, phản ứng màng xương và xâm lấn phần mềm. Tuy nhiên những biểu hiện ác tính trên phim chụp X quang thường ở giai đoạn rất muộn, để xác định sớm cần chọc sinh thiết
U xương ác tính:
Phân loại : ung thư nguyên phát ( Sarcome xương ), ung thư thứ phát ( di căn ung thư ).
Hình ảnh X quang: thể hiện sự thay đổi cấu trúc xương ở ba thể
- Thể tạo xương (tăng sinh xương): một vùng tăng đậm độ cản quang làm phình to xương và che lấp giới hạn của ống tủy. Phản ứng màng xương có dạng vuông góc với trục của thân xương ( hình lông thú hay tia nắng mặt trời )
- Thể tiêu xương: cho thấy một vùng xương mất toàn bộ cấu trúc, giới hạn nham nhở, không đều, thường phá vỡ vỏ xương và xâm lấn vào phần mềm.
- Thể hỗn hợp : bao gồm cả hình tăng sinh xương và hình tiêu hủy xương.
Một số bệnh về khớp
4.1. Thoái hóa khớp:
- Thường gặp ở người lớn tuổi do tổn thương sụn khớp. Biểu hiện đau khớp và hạn chế vân động
- Thể hiện trên phim X quang: Hình ảnh gai xương ở vùng rìa của đầu xương, dày đậm xương dưới sụn, hẹp khe khớp và đôi khi có hình một số ổ khuyết xương nhỏ ở đầu xương.
4.2. Bệnh Goutte:
- Là một bệnh rối loạn chuyển hóa do lắng đọng muối u – rát ở vùng khớp, đặc biệt là khớp bàn – ngón cái ở bàn chân.
- Hình ảnh điển hình là hẹp khe khớp, gai xương ở đầu xương và các ổ khuyết xương hình tròn hay bầu dục ở giữa hoặc phía bên cạnh đầu xương.
Nguồn: Bệnh viện 103
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 974 lượt xem
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





